Quay lại   Diễn đàn câu cá HFC > Tư vấn, chia sẻ kiến thức. > Khoa học và cuộc sống

Reply
 
Công cụ Kiểu hiển thị
Cũ 02-10-2008, 12:58 AM   #1
Bigfish
Life Member
Points: 22,977, Cấp bậc: 93 Points: 22,977, Cấp bậc: 93 Points: 22,977, Cấp bậc: 93
Activity: 0% Activity: 0% Activity: 0%
 
Ảnh đại diện Bigfish
 
Ngày gia nhập: Feb 2006
Đến từ: Hà Lội
Tuổi: 37
Bài viết: 532
Cảm ơn: 1,374
Được cảm ơn 1,499 lần trong 258 bài viết
Mặc định Sơ lược về biển và biển Việt Nam!

Bách khoa về Biển
(bản sơ lược về biển và biển Việt Nam)

Lời nói đầu
Bách khoa về biển (dưới dạng hỏi đáp) chủ yếu phục vụ cho các học sinh phổ thông, giáo viên địa lý, ngư dân, bà con sống vùng ven biển và hải đảo…(và các cần thủ câu biển). Bách khoa về biển (BKVB) giới thiệu những kiến thức cơ bản thông dụng về biển như sóng, gió, dòng chảy biển, thủy triều, địa chất biển, luật biển, tương tác khí quyển và đại dương, hóa học biển, sinh vật biển, sinh thái học biển, ô nhiễm biển…
Ngoài ra BKVB còn giới thiệu các đại dương, các biển thế giới và Biển Đông (của Việt Nam), các đảo và quần đảo thế giới, các bãi tắm của Việt Nam. Một số đảo, hòn đảo, quần đảo, vùng vịnh ở vùng biển nước ta. Vài nét mô tả khái quát và tóm tắt như vị trí dân cư, tài nguyên, thảm thực vật và hải sản,…
Đặc biệt BKVB còn đề cập một số hiện tượng thời tiết nguy hiểm xảy ra trên biển, vùng ven biển như sóng to, gió lớn, bão, lốc, hiện tượng sóng thần, nước biển dâng khi bão đổ bộ vào đất liền và hiện tượng ô nhiễm gây ra ở vùng biển ven bờ.
Do sách đề cập nhiều vấn đề với diện rộng cũng như việc hạn chế về trình bày và hình ảnh minh họa nên rất cần được góp ý và phê bình, xây dựng cho sách ngày càng hoàn hảo đáp ứng nhu cầu đọc và tra cứu của bạn đọc HFC.
P/S: Tôi cũng mong rằng sẽ có một hoặc nhiều thành viên của HFC xây dựng hoặc sơ lược về sông hồ ở Việt Nam để tiện cho các cần thủ và bạn đọc.

Xin chân thành cám ơn!
Nhà biên soạn Nguyễn Văn Phòng .
Nhà xuất bản Từ Điển Bách Khoa.
Trang web http://vi.wikipedia.org
Các thành viên HFC và bạn đọc.
Bigfish đang offline   Trả lời với trích dẫn
Cũ 02-10-2008, 12:59 AM   #2
Bigfish
Life Member
Points: 22,977, Cấp bậc: 93 Points: 22,977, Cấp bậc: 93 Points: 22,977, Cấp bậc: 93
Activity: 0% Activity: 0% Activity: 0%
 
Ảnh đại diện Bigfish
 
Ngày gia nhập: Feb 2006
Đến từ: Hà Lội
Tuổi: 37
Bài viết: 532
Cảm ơn: 1,374
Được cảm ơn 1,499 lần trong 258 bài viết
Mặc định Re: Sơ lược về biển và biển Việt Nam!

Mục lục
(bản sơ lược về biển và biển Việt Nam)

1. Đại Dương Thế Giới.
2. Các bãi tắm ở vùng biển Việt Nam.
3. Các cảng biển Việt Nam.
4. Các đảo và quần đảo Việt Nam.
5. Vịnh, đặc điểm vịnh Việt Nam.
6. Hải dương học.
7. Thềm lục địa.
8. Địa chất biển.
9. Tính chất vật lý của nước biển.
10. Sóng biển, thủy triều và dòng chảy biển.
11. Mối tương tác giữa khí quyển và đại dương.
12. Hóa học biển.
13. Sinh vật biển.
14. Sinh thái học biển.
15. Ô nhiễm biển.
16. Con người và biển cả.

Bigfish đang offline   Trả lời với trích dẫn
Cũ 02-10-2008, 01:00 AM   #3
Bigfish
Life Member
Points: 22,977, Cấp bậc: 93 Points: 22,977, Cấp bậc: 93 Points: 22,977, Cấp bậc: 93
Activity: 0% Activity: 0% Activity: 0%
 
Ảnh đại diện Bigfish
 
Ngày gia nhập: Feb 2006
Đến từ: Hà Lội
Tuổi: 37
Bài viết: 532
Cảm ơn: 1,374
Được cảm ơn 1,499 lần trong 258 bài viết
Lightbulb Re: Sơ lược về biển và biển Việt Nam!

Phần Đại Dương Thế Giới


1. Đại dương

Là một vùng lớn chứa nước mặn tạo thành thành phần cơ bản của thủy quyển. Khoảng 71% diện tích bề mặt Trái Đất (khoảng 361 triệu kilômét vuông) được các đại dương che phủ, một khối nước liên tục theo tập quán được chia thành một vài đại dương chủ chốt và một số các biển nhỏ. Trên một nửa diện tích khu vực này có độ sâu trên 3.000 mét (9.800 ft). Độ mặn trung bình của đại dương là khoảng 35 phần ngàn (ppt) (3,5%) và gần như mọi loại nước biển có độ mặn dao động trong khoảng từ 30 (ở vùng cận cực) tới 38 ppt (vùng nhiệt đới/cận nhiệt đới). Nhiệt độ nước bề mặt ở ngoài khơi là 29°C (84°F) ở vùng ven xích đạo xuống đến 0°C (32°F) ở các vùng địa cực.
Mặc dù nói chung được công nhận như là các đại dương 'tách biệt', nhưng các vùng nước mặn này tạo thành một khối nước nối liền với nhau trên toàn cầu, thường được gọi chung là Đại dương thế giới hay đại dương toàn cầu.[1][2] Khái niệm về đại dương toàn cầu như là một khối nước liên tục với sự trao đổi tương đối tự do giữa các bộ phận của nó có tầm quan trọng nền tảng cho hải dương học.[3] Các phần đại dương chính được định nghĩa một phần dựa vào các châu lục, các quần đảo khác nhau cùng các tiêu chí khác: các phần này là (theo trật tự giảm dần của diện tích) Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương, Nam Đại Dương (đôi khi được phân chia và tạo thành phần phía nam của Thái Bình Dương, Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương) và Bắc Băng Dương (đôi khi được coi là một biển của Đại Tây Dương[4]). Thái Bình Dương và Đại Tây Dương cũng có thể phân chia tiếp bởi đường xích đạo thành các phần Bắc và Nam. Các khu vực nhỏ hơn của đại dương được gọi là các biển, vịnh hay một số các tên gọi khác. Cũng tồn tại một số khối nước mặn nhỏ hơn trong đất liền và không nối với Đại dương thế giới, như biển Aral, Great Salt Lake (Hồ Muối Lớn) – mặc dù chúng có thể coi như là các 'biển', nhưng thực ra chúng là các hồ nước mặn. Có 5 đại dương trên thế giới[5], trong đó Thái Bình Dương là lớn nhất và sâu nhất, thứ hai về diện tích và độ sâu là Đại Tây Dương, tiếp theo là Ấn Độ Dương, Nam Đại Dương còn nhỏ và nông nhất là Bắc Băng Dương.
Nước đại dương luôn luôn chuyển động do tác động của thuỷ triều, gây ra bởi lực hấp dẫn của Mặt Trăng và Mặt Trời đối với Trái Đất, sóng và hải lưu do tác dụng của gió. Các dòng bù trừ phát sinh do sự thiếu hụt của nước. Chẳng hạn nước của Địa Trung Hải bị bốc hơi rất mạnh, ít sông suối đổ vào, do đó nước có độ mặn cao và có tỉ trọng lớn. Nước ở dưới sâu chảy từ Địa Trung Hải ra Đại Tây Dương tạo ra sự thiếu hụt, vì thế một hải lưu bề mặt lại chảy từ Đại Tây Dương vào Địa Trung Hải để bù vào chỗ thiếu hụt đó.
Do độ che phủ bề mặt Trái Đất tới 71% nên các đại dương có ảnh hưởng lớn tới sinh quyển. Sự bốc hơi nước của các đại dương quyết định phần lớn lượng giáng thủy mà Trái Đất nhận được, nhiệt độ nước của các đại dương cũng quyết định phần lớn khí hậu và kiểu gió trên Trái Đất. Sự sống trong lòng đại dương có lịch sử tiến hóa diễn ra khoảng 3 tỷ năm trước khi có sự di chuyển của động, thực vật lên trên đất liền. Lượng sự sống và khoảng cách tính từ bờ biển (yếu tố vô sinh) ảnh hưởng tới sự phân bố chính của quần xã sinh vật biển. Các sinh vật như tảo, rong, rêu sinh sống trong khu vực giáp giới thủy triều (nơi đất liền gặp biển) sẽ cố định chúng vào đá vì thế chúng không bị rửa trôi bởi thủy triều. Đại dương cũng là nơi sinh sống của nhiều loài và có thể phân chia thành vài đới (vùng, tầng) như vùng biển khơi, vùng đáy, vùng chiếu sáng, vùng thiếu sáng v.v.[6]
Về mặt địa chất, đại dương là nơi mà lớp vỏ đại dương được nước che phủ. Lớp vỏ đại dương dày trung bình khoảng 4,5 km, bao gồm một lớp trầm tích mỏng che phủ trên lớp bazan núi lửa mỏng đã đông cứng. Lớp bazan này che phủ lớp peridotit thuộc mặt ngoài của lớp phủ Trái Đất tại những nơi không có châu lục nào. Xét theo quan điểm này thì ngày nay có 3 “đại dương”: Đại dương thế giới, biển Caspi và biển Đen, trong đó 2 “đại dương” sau được hình thành do va chạm của mảng Cimmeria với Laurasia. Địa Trung Hải có thể coi là một “đại dương” gần như riêng biệt, nối thông với Đại dương thế giới qua eo biển Gibraltar và trên thực tế đã vài lần trong vài triệu năm trước chuyển động của châu Phi đã đóng kín eo biển này hoàn toàn. Biển Đen thông với Địa Trung Hải qua Bosporus, nhưng là do tác động của một kênh tự nhiên cắt qua lớp đá lục địa vào khoảng 7.000 năm trước, chứ không phải một mảng của đáy biển như eo biển Gibraltar.
Hình1:

Đại dương được chia ra thành nhiều khu vực hay tầng, phụ thuộc vào các điều kiện vật lý và sinh học của các khu vực này. Vùng biển khơi bao gồm mọi khu vực chứa nước của biển cả (không bao gồm phần đáy biển) và nó có thể phân chia tiếp thành các khu vực con theo độ sâu và độ chiếu sáng. Vùng chiếu sáng che phủ đại dương từ bề mặt tới độ sâu 200 m. Đây là khu vực trong đó sự quang hợp diễn ra phổ biến nhất và vì thế chứa sự đa dạng sinh học lớn nhất trong lòng đại dương. Do thực vật chỉ có thể sinh tồn với quá trình quang hợp nên bất kỳ sự sống nào tìm thấy dưới độ sâu này hoặc phải dựa trên các vật chất trôi nổi chìm xuống từ phía trên (xem tuyết biển) hoặc tìm các nguồn chủ lực khác; điều này thường xuất hiện dưới dạng miệng phun thủy nhiệt trong khu vực gọi là vùng thiếu sáng (tất cả các độ sâu nằm dưới mức 200 m). Phần biển khơi của vùng chiếu sáng được gọi là vùng biển khơi mặt (epipelagic). Phần biển khơi của vùng thiếu sáng có thể chia tiếp thành các vùng nối tiếp nhau theo chiều thẳng đứng. Vùng biển khơi trung (mesopelagic) là tầng trên cùng, với ranh giới thấp nhất tại lớp dị nhiệt là 12°C, trong đó tại khu vực nhiệt đới nói chung nó nằm ở độ sâu giữa 700 với 1.000 m. Dưới tầng này là vùng biển khơi sâu (bathypelagic) nằm giữa 10°C và 4°C, hay độ sâu giữa khoảng 700-1.000 m với 2.000-4.000 m. Nằm dọc theo phần trên của vùng bình nguyên sâu thẳm là vùng biển khơi sâu thẳm (abyssalpelagic) với ranh giới dưới của nó nằm ở độ sâu khoảng 6.000 m. Vùng cuối cùng nằm tại các rãnh đại dương và được gọi chung là vùng biển khơi tăm tối (hadalpelagic). Nó nằm giữa độ sâu từ 6.000 m tới 10.000 m và là vùng sâu nhất của đại dương.
Cùng với các vùng biển khơi thiếu sáng còn có các vùng đáy thiếu sáng, chúng tương ứng với ba vùng biển khơi sâu nhất. Vùng đáy sâu che phủ sườn dốc lục địa và kéo dài xuống độ sâu khoảng 4.000 m. Vùng đáy sâu thẳm che phủ các bình nguyên sâu thẳm ở độ sâu 4.000 – 6.000 m. Cuối cùng là vùng đáy tăm tối tương ứng với vùng biển khơi tăm tối, tìm thấy ở các rãnh đại dương. Vùng biển khơi cũng có thể chia ra thành hai vùng con, là vùng ven bờ (neritic) và vùng đại dương. Vùng neritic bao gồm khối nước nằm ngay trên các thềm lục địa, trong khi vùng đại dương bao gồm toàn bộ vùng nước biển cả còn lại.
Ngược lại, vùng duyên hải bao phủ khu vực nằm giữa các mức thủy triều cao và thấp nhất, nó là khu vực chuyển tiếp giữa các điều kiện đại dương và đất liền. Nó cũng có thể gọi là vùng liên thủy triều do nó là khu vực trong đó mức thủy triều có ảnh hưởng mạnh tới các điều kiện của khu vực.
Hình 2:


2. Nam Đại Dương
là một vùng nước bao quanh một châu lục là châu Nam Cực. Nó là đại dương lớn thứ tư và được xác định muộn nhất, chỉ được chấp thuận bằng quyết định của Tổ chức thủy văn quốc tế (IHO) năm 2000, mặc dù thuật ngữ này đã được sử dụng rất lâu và mang tính truyền thống trong các nhà hàng hải. Sự thay đổi này phản ánh những phát kiến gần đây trong lĩnh vực hải dương học về tầm quan trọng của các dòng hải lưu. Trước đây thì Đại Tây Dương, Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương được coi là mở rộng tới tận châu Nam Cực, định nghĩa này hiện nay vẫn còn được một số tổ chức địa lý sử dụng, trong đó có cả Hiệp hội Địa lý Quốc gia (NGS) của Mỹ.
Hình 3:

Ấn bản lần thứ 2 (năm 1937) của IHO Limits of Oceans and Seas có đưa vào Nam Đại Dương; tuy nhiên, nó lại không xuất hiện trong ấn bản lần thứ ba (năm 1953) do sự biến động các giới hạn thủy văn phía bắc của nó theo mùa và do các nhà khoa học cảm thấy rằng một đại dương nên được định nghĩa như là "vùng nước bao quanh bởi đất" chứ không phải "vùng nước bao quanh đất". Các tổ chức thủy văn của từng quốc gia thành viên riêng rẽ đã định nghĩa các ranh giới của chính họ cho đại dương này; ví dụ Vương quốc Anh sử dụng vĩ tuyến 55° nam.[1]
IHO lại đưa vấn đề này ra năm 2000. Trong số 68 quốc gia thành viên thì 28 có phản ứng và gần như tất cả các thành viên có phản ứng, ngoại trừ Argentina, đã đồng ý định nghĩa một đại dương mới. Đề xuất cho tên gọi Southern Ocean (Nam Đại Dương) được 18 phiếu, vượt xa tên gọi đề xuất thứ hai là Antarctic Ocean (Nam Băng Dương/đại dương Nam Cực). Một nửa số phiếu ủng hộ cho việc kết thúc đại dương này tại 60° vĩ nam (mà không có các gián đoạn đất liền tại vĩ tuyến này), với 14 phiếu khác cho các định nghĩa khác, chủ yếu là 50° vĩ nam, nhưng có một số phiếu cho vĩ độ xa về phía bắc tới 35° vĩ nam.
Một số các nguồn khác, như Hiệp hội Địa lý Quốc gia Hoa Kỳ (NGS) vẫn tiếp tục thể hiện Đại Tây Dương, Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương như là các đại dương trải rộng tới sát bờ biển châu Nam Cực.
Về mặt địa lý hải dương học nó được định nghĩa như là một đại dương gắn liền với dòng hải lưu quanh châu Nam Cực, là dòng hải lưu lưu thông xung quanh châu Nam Cực. Nó bao gồm biển Amundsen, biển Bellingshausen, một phần của hành lang Drake, biển Ross, một phần nhỏ của biển Scotia và biển Weddell. Tổng diện tích của nó là 20.327.000 km² và đường bờ biển kéo dài 17.968 km.
Các tọa độ địa lý của nó về danh nghĩa là 65°00′ nam và 0°00′ đông, nhưng Nam Đại Dương có nét đặc biệt duy nhất do người ta vẫn coi nó như là một vùng nước lưu thông lớn có dạng vòng tròn bao quanh châu Nam Cực; vòng tròn này nằm giữa vĩ tuyến 60° nam và bờ biển của châu Nam Cực cũng như nó chứa đựng đủ 360° tính theo kinh độ.
Tuy nhiên, định nghĩa này không phải là phổ biến. Tại Úc thì Nam Đại Dương được định nghĩa giống như định nghĩa của IHO nhưng có bao gồm toàn bộ vùng nước còn lại nằm giữa châu Nam Cực và các bờ biển phía nam của Úc và New Zealand cũng như được thể hiện trên bản đồ giống như vậy. Cụ thể, các bản đồ bờ biển của Tasmania và Nam Úc luôn luôn đánh dấu các khu vực biển là Nam Đại Dương mà không bao giờ là Ấn Độ Dương.
Nam Đại Dương được hình thành về mặt địa lý hải dương học khi châu Nam Cực và Nam Mỹ chuyển động ra xa tạo ra hành lang Drake và dòng hải lưu quanh châu Nam Cực đã được tạo ra khoảng 30 triệu năm trước, điều này làm cho đại dương này trẻ hơn nhiều so với các đại dương khác.
Điểm được lựa chọn chủ yếu là hành lang Drake. Frông vùng cực (vùng hội tụ Nam Cực) là định nghĩa tự nhiên tốt nhất cho sự mở rộng về hướng bắc của Nam Đại Dương; nó là khu vực đặc biệt ở giữa dòng hải lưu quanh châu Nam Cực làm tách bạch các vùng nước rất lạnh ở bề mặt xung quang vùng cực ở phía nam với các vùng nước ấm ở phía bắc; frông và dòng hải lưu mở rộng xung quanh toàn bộ châu Nam Cực, đạt tới phía nam của vĩ tuyến 60° nam gần New Zealand và gần với 48° nam khi nam Đại Tây Dương trùng khớp với đường cực đại của các luồng gió tây.
Nhiệt độ nước biển dao động từ 28 đến 50°F (-2 đến 10°C). Các trận bão, gió xoáy di chuyển theo hướng đông xung quanh châu Nam Cực và thông thường là mạnh do sự chênh lệch nhiệt độ giữa các vùng đóng băng và đại dương. Khu vực đại dương từ khoảng vĩ tuyến 40° nam cho tới vòng Cực Nam về trung bình là có các trận gió mạnh nhất trên Trái Đất. Về mùa đông đại dương bị đóng băng tới vĩ tuyến 65° nam ở khu vực Thái Bình Dương và 55° nam ở khu vực Đại Tây Dương, làm hạ nhiệt độ bề mặt xuống dưới 0°C; tại một số điểm bờ biển do gió thổi liên tục từ phía trong đã làm cho đường bờ biển không bị đóng băng trong mùa đông.
Nam Đại Dương là một đại dương khá sâu với độ sâu từ 4.000 đến 5.000 mét tại phần lớn các khu vực của nó, với một diện tích hữu hạn các vùng nước nông. Thềm lục địa Nam Cực nói chung là hẹp và sâu bất thường, các gờ của nó nằm ở độ sâu từ 400 đến 800 m (trung bình toàn cầu chỉ khoảng 133 m). Các vùng đóng băng của Nam Cực dao động từ ít nhất là 2,6 triệu km² vào tháng 3 tới khoảng 18,8 triệu km² vào tháng 9, gấp khoảng 7 lần khi nhỏ nhất. Dòng hải lưu quanh châu Nam Cực (dài 21.000 km) chuyển động liên tục về hướng đông; nó là dòng hải lưu lớn nhất thế giới, đem theo 130 triệu m³ nước trên giây - 100 lần lớn hơn lưu lượng của tất cả các dòng sông trên thế giới.
3. Đại Tây Dương
Là đại dương lớn thứ 2 trên Trái Đất và chiếm khoảng 1/5 diện tích hành tinh, được bao quanh bởi châu Mỹ về phía Tây, châu Âu và châu Phi về phía Đông.
Đại Tây Dương được nối liền với Thái bình dương bởi Bắc Băng Dương về phía Bắc và hành lang Drake về phía Nam. Đại tây dương còn ăn thông với Thái bình dương qua một công trình nhân tạo là kênh đào Panama, và được ngăn với Ấn Độ Dương bởi kinh tuyến 20 độ Đông. Nó được ngăn cách với Bắc băng dương bởi một đường kéo dài từ Greenland đến Tây bắc của Iceland và từ phía Đông bắc của Iceland đến cực Nam của Spitsbergen và North Cape về phía Bắc của Na uy. Đại Tây Dương có hình chữ S kéo dài từ Bắc xuống Nam và được chia ra làm hai phần: Bắc và Nam Đại Tây Dương bởi dòng nước ngược vùng xích đạo vào khoảng 8 vĩ độ Bắc.
Hình 4:

Đại Tây Dương có một bờ biển khúc khuỷu với rất nhiều vịnh và biển như:
• Biển Ca-ri-bê
• Vịnh Mễ Tây Cơ
• Vịnh St. Lawrence
• Địa Trung Hải
• Biển Đen
• Biển Bắc
• Biển Labrador
• Biển Baltic
• Biển Na Uy-biển Greenland.

4. Thái Bình Dương
(Theo tiếng Latinh: Mare Pacificum, được đặt tên bởi nhà thám hiểm Bồ Đào Nha Ferdinand Magellan), là đại dương lớn nhất thế giới, bao phủ một phần ba bề mặt Trái Đất, với diện tích 179,7 triệu km² (69,4 triệu dặm vuông). Nó trải dài khoảng 15.500 km (9.600 dặm) từ biển Bering trong vùng Bắc cực đến gần biển Ross của Nam cực (mặc dù đôi khi khu vực ven châu Nam Cực được gọi là Nam Đại Dương). Thái Bình Dương có chiều rộng đông-tây lớn nhất tại vĩ tuyến 5° bắc, nơi nó trải dài 19.800 km (12.300 dặm) từ Indonesia đến bờ biển Colombia. Ranh giới phía tây của biển này thường được đặt tại eo biển Malacca. Điểm thấp nhất trái đất tại vực Mariana nằm ở dộ sâu 11.022 m dưới mặt nước.
Hình 5:

Nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha Ferdinand Magellan đã đặt tên cho biển này. Trong suốt cuộc hành trình của ông từ eo biển Magellan đến Philippines, Magellan đã không gặp trở ngại. Tuy nhiên, Thái Bình Dương không phải lúc nào cũng "thái bình". Nhiều cơn bão đã tàn phá nhiều đảo trên Thái Bình Dương và các khu vực đất liền ven biển có nhiều núi lửa và thường có động đất. Sóng thần, do động đất dưới đáy biển gây ra, đã tàn phá nhiều đảo và phá hủy nhiều làng mạc.
Đáy biển ở lòng chảo trung tâm Thái Bình Dương tương đối đồng đều, các khu vực sâu thẳm với độ sâu trung bình khoảng 4270 m. Sự khác biệt ở khu vực lòng chảo là các ngọn núi dưới mặt nước độ dốc lớn và đỉnh bằng. Phần phía tây của nền gồm các rặng núi mọc lên trên mặt biển tạo thành các hòn đảo, như đảo Solomon và New Zealand, và các vực sâu, như vực Mariana, vực Philippine, và vực Tonga. Hầu hết các vực nằm sát với rìa ngoài của thềm lục địa phía tây rộng lớn
Theo rìa phía đông của lòng chảo Thái Bình Dương là một phần của dãy núi miền trung của đại dương. Khoảng 3000 km trải dài, khoảng 3km trên mặt nền đại dương bên cạnh.
Dọc theo lề Thái Bình Dương có nhiều biển nhỏ, biển lớn nhất là biển Celebes, biển Coral, biển Đông Trung Hoa (East China Sea), biển Nhật Bản, biển Đông (South China Sea), biển Sulu, biển Tasman và Hoàng Hải. Eo biển Malacca nối Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương về hướng tây, và eo biển Magellan nối Thái Bình Dương với Đại Tây Dương về hướng đông.
• Arafura Sea
• Biển Banda
• Biển Bering
• Biển Bismarck
• Biển Bohai
• Biển Bohol (Mindanao Sea)
• Biển Camotes
• Biển Celebes
• Biển Ceram
• Biển Chilean
• Biển Coral
• Biển East China
• Biển Flores
• Vịnh Alaska
• Vịnh California (Sea of Cortés)
• Vịnh Carpentaria
• Vịnh Thailand
• Biển Halmahera
• Biển Java
• Biển Koro
• Biển Molucca
• Biển Philippine
• Biển Savu
• Biển Nhật Bản
• Biển Okhotsk
• Biển Seto Inland
• Biển Solomon
• Biển South China
• Biển Sulu
• Biển Tasman
• Biển Timor
• Hoàng Hải
Thái Bình Dương có khoảng 25.000 đảo (hơn số đảo của các biển khác hợp lại), phần lớn nằm phía nam của đường xích đạo.
5. Ấn Độ Dương
Có diện tích 75.000.000 km2. Đại dương này về hướng Bắc được giới hạn bởi bán đảo Ấn Độ, Pakistan và Iran, về hướng Đông bởi Đông Nam Á (cụ thể là Myanma, Thái Lan, Malaysia, Indonesia) và châu Đại Dương), về phía Tây bởi bán đảo Ả Rập và châu Phi. Ấn Độ Dương mở tại hướng Nam và giáp Nam Băng Dương.
Theo quy ước quốc tế, ranh giới giữa Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương nằm ở kinh tuyến 20° Đông, và ranh giới với Thái Bình Dương nằm ở kinh tuyến đi ngang qua đảo Tasmania. Ấn Độ Dương chấm dứt chính xác tại vĩ tuyến 60° Nam và nhường chỗ cho Nam Đại Dương.
Hình 6:

Hải lưu
• Hải lưu Agulhas
• Hải lưu Đông Madagascar
• Hải lưu Somali
• Hải lưu Mozambique
• Hải lưu Leeuwin
• Hải lưu Indonesia
• Hải lưu Bắc Xích đạo
• Hải lưu Nam Xích đạo
Các biển
• Biển Andaman
• Biển Đỏ
Eo biển
• Eo biển Malacca
• Eo biển Mozambique
Vịnh
• Vịnh Tadjoura
• Vịnh Ba Tư
Các đảo
Quần đảo Mentawai
Quần đảo Nicobar
• Greenland
• Quần đảo Bắc Cực
• Spitsbergen
• Đất Mới
• Đất Bắc
Đông
• Andaman Islands (India)
• Ashmore and Cartier Islands (Australia)
• Đảo Christmas (Australia)
• Quần đảo Cocos (Keeling) (Australia)
• Dirk Hartog Island (Australia)
• Houtman Abrolhos (Australia)
• Langkawi Islands (Malaysia)
• Mentawai Islands (Indonesia)
• Mergui Archipelago (Myanmar)
• Nias Island (Indonesia)
• Nicobar Islands (India)
• Penang (Malaysia)
• Phi Phi Islands (Thailand)
• Phuket (Thailand)
• Simeulue Island (Indonesia)
• Weh Island (Indonesia)
• Sri Lanka
Tây
• Agalega (Mauritius)
• Bassas da India (France)
• Bazaruto Archipelago (Mozambique)
• Cargados Carajos (Mauritius)
• Chagos Archipelago (Inc. Diego Garcia) (UK)
• Comoros
• Europa Island (France)
• Glorioso Islands (France)
• Juan de Nova Island (France)
• Lakshadweep Archipelago (India)
• Lamu Archipelago (Kenya)
• Madagascar
• Mafia Island (Tanzania)
• Maldives
• Mauritius
• Mayotte (France)
• Pemba (Tanzania)
• Quirimbas Archipelago (Mozambique)
• Réunion (France)
• Rodrigues (Mauritius)
• Seychelles
• Socotra Island (Yemen)
• Tromelin Island (France)
• Zanzibar (Tanzania)
Nam
• Amsterdam Island (France)
• Crozet Islands (France)
• Heard Island and McDonald Islands (Australia)
• Kerguelen Islands (France)
• Prince Edward Islands (South Africa)
• Saint-Paul Island (France)
6. Bắc Băng Dương
Là đại dương nhỏ nhất trong năm đại dương của Trái Đất, bao quanh cực Bắc, nơi đây băng tuyết bao phủ quanh năm. Có diện tích 14.090.000 km² và có độ sâu trung bình 1.038 mét. Bao quanh bởi các vùng đất của Liên bang Nga, Hoa Kỳ (vùng Alaska), Canada, Na uy, Đan Mạch (vùng Greenland).
Hình 7:

7. Biển giữa lục địa
Biển giữa lục địa thường ăn sâu vào đất liền, thông với đại dương bằng các eo biển hẹp, không để cho sự trao đổi nước với đại dương thật dễ dàng.
Những biển này có chế độ thủy văn nổi bật như: thủy triều không lớn, nhiệt độ nước từ độ sâu nào đó tới đáy biển có tính chất đồng kiểu. Độ sâu đó thường là nơi có các sống ngầm (đỉnh các dãy đồi, núi ngầm), phân cách những độ sâu lớn của đại dương.
Các loại biển giữa lục địa được hiểu bao gồm biển giữa các lục địa (giữa 2 hay 3 lục địa) như Địa Trung Hải, hay biển nằm trong một lục địa như biển Catxpien, biển Aral, biển Baltic.
8. Biển ven lục địa
Biển ven lục địa tách với đại dương bằng chuỗi các đảo, đôi khi bằng các bán đảo. Quan hệ của những biển này với đại dương chặt chẽ hơn so với bBiển giữa lục địa.
Tại các biển này, thủy triều từ đại dương vào thật dễ dàng, các khối nước biển có tính chất phù hợp nhiều với khối nước của đại dương tiếp cận, các hải lưu phụ thuộc nhiều vào hải lưu của đại dương.
Một số biển ven lục địa: biển Nhật Bản, biển Bering, biển Đông của Việt Nam.
9. Biển ven lục địa
Biển ven lục địa tách với đại dương bằng chuỗi các đảo, đôi khi bằng các bán đảo. Quan hệ của những biển này với đại dương chặt chẽ hơn so với bBiển giữa lục địa.
Tại các biển này, thủy triều từ đại dương vào thật dễ dàng, các khối nước biển có tính chất phù hợp nhiều với khối nước của đại dương tiếp cận, các hải lưu phụ thuộc nhiều vào hải lưu của đại dương.
Một số biển ven lục địa: biển Nhật Bản, biển Bering, biển Đông của Việt Nam.
10. Vịnh
Theo Từ điển Dầu khí do Tổng Hội Địa chất Việt Nam xuất bản năm 2004 thì "Vịnh là vùng nước rộng ăn sâu vào đất liền, nơi đường bờ biển có dạng đường cong lớn. Vũng là vùng nước có những đặc điểm tương tự nhưng nhỏ hơn vịnh".
Theo “Từ điển Địa chất giải thích” (Nguyễn Văn Chiển và nnk, 1979) thì "Vịnh là phần biển ăn sâu vào lục địa, có cửa mở rộng ra phía khơi với chiều rộng đáng kể. Vũng biển là phần biển ăn sâu vào lục địa, nối với ngoài khơi thường chỉ bằng các khe, lạch không lớn... Vũng biển còn được gọi là vịnh nhỏ".
Tuy nhiên, theo cách hiểu thông thường, chúng ta thường hay nhầm lẫn giữa "vịnh lớn" (Gulf), "vịnh" (Bay) và "vũng" (small bay) nên thường hay nói "Vịnh Bắc Bộ" (Gulf of Tonkin), "Vịnh Hạ Long" (Ha Long Bay), "Vịnh Bái Tử Long" (Bai Tu Long Bay) hoặc "Vịnh Cam Ranh" (Cam Ranh Bay).
Để phân biệt rõ hơn các khái niệm "vịnh lớn", "vịnh" và "vũng" và vũng có thể tham khảo trong Từ điển Địa chất Mỹ xuất bản năm 1987, tái bản năm 2001. Theo đó thì "Vịnh (bay) là một vùng nước biển hay hồ rộng lớn, mở hoặc nằm giữa hai mũi nhô ven bờ hoặc các hòn, các đảo nhỏ ven bờ. Vịnh lớn hơn vũng (cove, small bay) nhưng nhỏ hơn, nông hơn những vùng nước biển và đại dương lớn được ôm bởi những vòng cung bờ biển dài thông với đại dương được gọi là vịnh lớn (gulf)".
Theo các cách định nghĩa trên thì rõ Ràng Vịnh Bắc Bộ là một vịnh lớn và bao gồm luôn cả Vịnh Hạ Long và Vịnh Bái Tử Long là hai vịnh nhỏ còn vịnh Cam Ranh nên gọi là Vũng Cam Ranh thì chính xác hơn.
Hình 8:

11. Vụng
Vụng là những vịnh có kích thước không lớn, được bảo vệ chống sóng gió bởi các mõm nhô ra biển.
Một số vụng ở Việt Nam: vụng Đà Nẵng, vụng Dung Quất, vụng Qui Nhơn, vụng Văn Phong...
12. Vũng cạn
Vũng cạn là loại vịnh cạn ăn lõm sâu vào đất liền, có các doi đất hoặc các cồn đất ngăn ở cửa vụng. Vũng cạn chính là thung lũng đoạn cửa sông hay vùng hạ du bị ngập đầy nước biển.
Một số vũng cạn ở Việt Nam: vũng Nước Ngọt ở Bình Định, cửa Tráp ở Nghệ An...
13. Phá
Phá kéo dài dọc theo bờ biển, là một "vịnh" cạn chứa nước mặn hay nước lợ, được nối với biển bằng những eo không lớn hoặc hoàn toàn tách biệt với biển bằng các doi đất.
Phá còn có thể là các kho nước biển nằm trong lòng các vành đảo san hô (atoll).
Có những phá mà bờ của nó kéo dài hàng nghìn km (vịnh Mexico bãi cạn ngăn cách phá với biển dài 1800 km). Ven bờ biển Việt Nam có phá Tam Giang.
14. Khe fio
Khe fio là những vụng hẹp, nước sâu, ăn rất sâu vào đất liền, có bờ đá cao và rất dốc. Nguồn gốc các khe fio có quan hệ tới các sông băng kỷ băng hà
Khe fio điển hình là Conxky ở biển Bắc Âu.
15. Biển Đông
(Tên quốc tế thông dụng: Nam Hải) là một biển rìa lục địa (marginal sea), một phần của Thái Bình Dương, bao phủ một diện tích từ Singapore tới eo biển Đài Loan với diện tích áng chừng khoảng 3,500,000 km². Đây là một hình thể biển lớn nhất sau năm đại dương. Các đảo ở Biển Đông có số lượng nhiều, tập hợp thành một số quần đảo. Vùng biển này và phần lớn các đảo không có người ở của nó là mục tiêu tranh chấp chủ quyền của nhiều quốc gia xung quanh. Những tranh chấp đó cũng thể hiện ở số lượng tên gọi được sử dụng để chỉ vùng biển này.
Hình 9:

South China Sea là thuật ngữ phổ biến nhất trong tiếng Anh để chỉ vùng biển này, và tên trong đa số các ngôn ngữ Châu Âu khác cũng như vậy, nhưng các nước xung quanh thì gọi nó bằng nhiều tên khác nhau, thường phản ánh chủ quyền lịch sử của họ đối với quyền bá chủ vùng biển.
Trung Quốc thường hay gọi tắt biển này là Nam Hải (南海). Trong ngành xuất bản hiện nay của Trung Quốc, nó thường được gọi là Nam Trung Quốc Hải (南中國海), và cái tên này cũng thường được dùng trong các bản đồ bằng tiếng Anh do Trung Quốc ấn hành. Philippines gọi là biển Luzón theo tên hòn đảo lớn Luzon của Philippine.
Tại Việt Nam, hầu hết lãnh thổ hướng chính ra biển là hướng đông, do đó tên tiếng Việt của biển này hàm nghĩa là vùng biển Đông Việt Nam. Ở đồng bằng sông Cửu Long có thể ra biển về hướng tây (vịnh Thái Lan) về phía các nước Campuchia và Thái Lan. Biển Đông Việt Nam còn ghi dấu ấn của mình vào văn hóa và lịch sử Việt Nam, thể hiện qua câu tục ngữ "thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn; Thuận bè, thuận bạn tát cạn biển Đông", hay thành ngữ "dã tràng xe cát biển Đông". Người Trung Quốc ở đảo Hải Nam thì có câu "phúc như Đông hải, thọ tỉ Nam sơn"[1]. Trong các tài liệu cổ về hàng hải của Bồ Đào Nha vào thế kỉ 15-16 còn có tên là Biển Chăm Pa.
Ngoài ra còn có East China Sea (tên quốc tế của biển này) ở phía bắc so với biển Đông Việt Nam, Trung Quốc gọi tắt là Đông Hải, khi tra cứu những tài liệu của Trung Quốc hoặc của nước khác tham khảo tài liệu Trung Quốc, chú ý không nhầm lẫn hai biển Đông này.
Tên gọi quốc tế của biển Đông ra đời từ nhiều thế kỷ trước, là biển Nam Trung Hoa vì thời bấy giờ Trung Quốc là nước rộng lớn nhất, phát triển nhất, nổi tiếng nhất trong khu vực và đã có giao thương với phương Tây qua con đường tơ lụa. Tên gọi nhiều biển, đại dương vốn căn cứ vào vị trí của chúng so với các vùng đất gần đó cho dễ tra cứu, không có ý nói về chủ quyền. Có thể kể ra các thí dụ là Ấn Độ Dương, là đại dương ở phía nam Ấn Độ, giáp nhiều nước ở châu Á và châu Phi, không phải là của riêng nước Ấn Độ; hay biển Nhật Bản, được bao quanh bởi Nga, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc và Nhật Bản.
Vịnh Bắc Bộ là phần biển Đông giữa miền Bắc Việt Nam với Đảo Hải Nam miền Nam Trung Quốc. Bờ phía Tây là bờ biển Việt Nam từ Thanh Hóa đến Móng Cái. Phía bắc từ Móng Cái trở sang phía Đông là 2 tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông của Trung Quốc với bán đảo Lôi Châu. Bờ Đông là đảo Hải Nam của Trung Quốc. Trong vịnh có hàng nghìn đảo nhỏ, nổi tiếng nhất là các đảo trong vịnh Hạ Long được UNESCO xếp loại là di sản thiên nhiên thế giới. Đảo Bạch Long Vĩ thuộc Việt Nam ở giữa vịnh, có diện tích khoảng 2,5 km².
Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở giữa biển Đông đã được nhiều chính quyền Việt Nam liên tục thực hiện chủ quyền từ nhiều thế kỷ qua. Quần đảo Hoàng Sa do Trung Quốc dùng bạo lực chiếm giữ một phần từ những năm 1950 và hoàn toàn từ năm 1974. Tranh chấp chủ quyền, một phần hay toàn bộ, cũng đã diễn ra tại quần đảo Trường Sa giữa Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Indonesia, Brunei và Đài Loan.
Những lý do chính để các nước tranh chấp chủ quyền hai quần đảo trên là:
• Diện tích lãnh hải với đặc quyền kinh tế và việc triển khai quốc phòng.
• Biển Đông nằm trên một trong những đường giao thông hàng hải lớn trên thế giới, có nguồn thủy sản và tiềm năng dầu khí.
Hiện nay sự tranh chấp đang được các bên thương lượng đàm phán vì sự hòa bình và ổn định trong khu vực để phát triển kinh tế.
Hình 10:

Tổ chức thuỷ văn học quốc tế xác định vùng biển trải dài theo hướng từ tây nam đến đông bắc, biên giới phía nam là 3 độ vĩ độ Nam giữa Nam Sumatra và Kalimantan (eo biển Karimata), và biên giới phía bắc của nó là eo biển Đài Loan từ mũi phía bắc Đài Loan tới bờ biển Phúc Kiến thuộc đại lục Trung Quốc. Vịnh Thái Lan chiếm phần phía tây của biển Đông.
Biển nằm trên một thềm lục địa ngầm; trong những kỷ băng hà gần đây nước biển đã hạ thấp xuống hàng trăm mét, và Borneo từng là một phần của lục địa Châu Á.
Các nước và lãnh thổ có biên giới với vùng biển này (theo chiều kim đồng hồ từ phía bắc) gồm: đại lục Trung Quốc, Macao, Hồng Kông, Đài Loan, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Singapore, Thái Lan, Campuchia, và Việt Nam.
Nhiều con sông lớn chảy vào Biển Đông gồm các sông Châu Giang, Mân Giang, sông Cửu Long (Phúc Kiến), sông Hồng, sông Mê Kông, sông Rajang, sông Pahang, và sông Pasig.
Phía đông bắc Biển Đông có quần đảo Đông Sa, thuộc Trung Quốc (Pratas Islands), mà Đài Loan cũng tuyên bố chủ quyền.
Bên trong vùng biển, có hơn 200 đảo và bãi đá ngầm đã được đặt tên, đa số chúng thuộc Quần đảo Trường Sa. Quần đảo Trường Sa trải dài trên một vùng rộng 810, dài 900 km với khoảng 175 đảo đã được xác định, hòn đảo lớn nhất là đảo Ba Bình (Itu Aba) với chỉ hơn 1,3 km chiều dài và điểm cao nhất là 3,8 mét.
Có một núi ngầm rộng 100 km được gọi là Reed Tablemount ở đông bắc quần đảo Trường Sa, cách biệt khỏi đảo Palawan của Philippine bởi Rãnh Palawan. Hiện nay nằm sâu 20m dưới mực nước biển nhưng trước kia nó từng là một hòn đảo trước khi bị mực nước biển dâng lên ở thời băng hà cuối cùng làm chìm ngập.
Phía đông quần đảo Hoàng Sa có các bãi ngầm như Macclesfield Bank (quần đảo Trung Sa), Stewart Bank, Truro Shoal và Scarborough Shoal.
• Bãi Scarborough Shoal
o Vị trí: nằm về phía Đông của bãi Macclesfield, gần bờ biển Philippines
o Hình thể: là một bãi khá lớn bên dưới là đá ngầm. Bãi này nằm dưới mặt biển chừng 92 fathoms.
• Bãi Truro Shoal: nằm bên cạnh Scarborough Shoal, sâu 10 fathoms
• Bãi Stewart Bank: (578 fathoms) gần đảo Luzon của Philippines.
Đây là một vùng biển có ý nghĩa địa chính trị vô cùng quan trọng. Nó là đường hàng hải đông đúc thứ hai trên thế giới, trong khi nếu tính theo tổng lượng hàng hoá thương mại chuyển qua hàng năm, hơn 50% đi qua Eo biển Malacca, Eo Sunda, và Eo Lombok. Hơn 1.6 million m³ (10 triệu barrels) dầu thô được chuyển qua eo biển Malacca hàng ngày, nơi thường xảy ra các vụ hải tặc, nhưng hiện đã giảm nhiều so với giữa thế kỷ 20.
Vùng này đã được xác định có trữ lượng dầu mỏ khoảng 1.2 km³ (7.7 tỷ barrel), với ước tính tổng khối lượng là 4.5 km³ (28 tỷ barrels). Trữ lượng Khí gas tự nhiên được ước tính khoảng 7,500 km³ (266 nghìn tỷ feet khối).
Theo những nghiên cứu do Sở môi trường và các nguồn lợi tự nhiên Philippine, vùng biển này chiếm một phần ba toàn bộ đa dạng sinh học biển thế giới, vì vậy nó là vùng rất quan trọng đối với hệ sinh thái.
Tuyên bố lãnh hải: Có rất nhiều tranh cãi về lãnh hải trên vùng Biển Đông và các nguồn tài nguyên của nó. Bởi Luật biển năm 1982 của Liên hiệp quốc cho phép các nước có vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) mở rộng 200 dặm biển (370.6 km) từ lãnh hải của họ, tất cả các nước quanh vùng biển có thể đưa ra tuyên bố chủ quyền với những phần rộng lớn của nó. Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) đã tuyên bố chủ quyền hầu như toàn bộ vùng biển. Những báo cáo gần đây cho thấy CHNDTH đang phát triển một nhóm tàu sân bay để bảo vệ những đường vận chuyển nhiên liệu ở Biển Đông. Những vùng có nguy cơ tranh chấp gồm:
• Indonesia và CHNDTH về vùng biển Đông Bắc đảo Natuna.
• Philippines và CHNDTH về những khu khai thác khí gas Malampaya và Camago.
• Philippines và CHNDTH về bãi cát ngầm Scarborough.
• Việt Nam và CHNDTH về vùng biển phía tây Quần đảo Trường Sa. Một số hay toàn bộ quần đảo Trường Sa đang bị tranh chấp bởi Việt Nam, CHNDTH, Trung Hoa Dân quốc, Philippines, và một số nước khác.
• Quần đảo Hoàng Sa đang dưới sự quản lý và tuyên bố chủ quyền của Việt Nam, CHNDTH quản lý 6 đảo từ năm 1974 đến nay.
• Malaysia, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam về những vùng ở Vịnh Thái Lan.
• Singapore và Malaysia dọc theo Eo biển Johore và Eo biển Singapore.
Cả CHNDTH và Việt Nam đều theo đuổi các tuyên bố chủ quyền một cách mạnh mẽ. Quần đảo Hoàng Sa đã bị Trung Quốc chiếm được 6 đảo năm 1974 và 18 binh sĩ đã thiệt mạng. Quần đảo Trường Sa là nơi đã xảy ra xung đột hải quân, hơn bảy mươi lính thuỷ Việt Nam đã bị giết hại ở phía nam bãi đá ngầm Chigua tháng 3, 1988. Các nước tranh chấp thường xuyên thông báo về các vụ va chạm giữa các tàu hải quân.
ASEAN nói chung, và Malaysia nói riêng luôn muốn đảm bảo rằng những tranh chấp bên trong Biển Đông sẽ không leo thang trở thành xung đột quân sự. Vì vậy, các cơ cấu phát triển chung (Joint Development Authorities) đã được lập ra tại các vùng tranh chấp chồng lấn để cùng phát triển vùng và phân chia quyền lợi công bằng tuy nhiên không giải quyết vấn đề chủ quyền của vùng đó. Điều này đã trở thành sự thực, đặc biệt là ở Vịnh Thái Lan.
Những tuyên bố lãnh thổ chồng lần ở Pulau Pedra Branca hay Pulau Batu Putih của cả Singapore và Malaysia đã được đưa ra Toà án quốc tế. Toà án phán quyết theo chiều hướng có lợi cho Singapore.
Đính kèm
Click vào ảnh để xem với kích thước lớn

Tên: 1111.jpg
Lượt xem: 168
Size:	44.5 KB
ID:	2569   Click vào ảnh để xem với kích thước lớn

Tên: 11.jpg
Lượt xem: 177
Size:	31.5 KB
ID:	2570   Click vào ảnh để xem với kích thước lớn

Tên: 11111111.jpg
Lượt xem: 167
Size:	41.3 KB
ID:	2571   Click vào ảnh để xem với kích thước lớn

Tên: 11111111111111.jpg
Lượt xem: 162
Size:	63.4 KB
ID:	2572   Click vào ảnh để xem với kích thước lớn

Tên: mail.jpg
Lượt xem: 175
Size:	31.5 KB
ID:	2573  

Bigfish đang offline   Trả lời với trích dẫn
Cũ 02-10-2008, 01:04 AM   #4
Bigfish
Life Member
Points: 22,977, Cấp bậc: 93 Points: 22,977, Cấp bậc: 93 Points: 22,977, Cấp bậc: 93
Activity: 0% Activity: 0% Activity: 0%
 
Ảnh đại diện Bigfish
 
Ngày gia nhập: Feb 2006
Đến từ: Hà Lội
Tuổi: 37
Bài viết: 532
Cảm ơn: 1,374
Được cảm ơn 1,499 lần trong 258 bài viết
Mặc định Re: Sơ lược về biển và biển Việt Nam!

Phần Bãi tắm ở vùng biển Việt Nam


1.Bãi tắm Trà Cổ
Trà Cổ - Bãi biển trữ tình nằm ở cực Ðông Bắc đất nước thuộc tỉnh Quảng Ninh, kề sát biên giới Trung Quốc, cách thị xã Móng Cái và cửa khẩu Móng Cái 8 - 9 km. Cư dân bán đảo nhỏ này vốn gốc ở Ðồ Sơn di cư đến sinh sống và lập nghiệp.
Bằng ca nô hay tàu thủy chạy từ Hải Phòng đến Móng Cái với quãng đường 206 km hoặc từ Hồng Gai với hành trình 132 km, bạn sẽ đến bãi biển Trà Cổ. Nếu bạn đi đường bộ từ Hà Nội, theo đường 18, Hà Nội - Hòn Gai đến Tiên Yên rồi rẽ đường số 4 đi th? xã Móng Cái để ra bãi biển Trà Cổ. Hiện nay đường ra bãi biển Trà Cổ hiện đã có hệ thống đê ngăn và đường đi được mở rộng làm mới rất thuận lợi cho việc thông thương.
Bãi biển Trà Cổ được mệnh danh là "bãi biển trữ tình nhất Việt Nam" với bãi tắm rộng và bằng phẳng, nền cát trắng mịn hòa trong nền nước biển xanh biếc suốt bốn mùa. Bởi Trà Cổ là rìa bên ngoài của một đảo bồi tự nhiên do tác động của sóng và dòng biển ven bờ tạo thành, nên bên bờ biển là những cồn cát cao từ 3 đến 4 m, có làng ấp và dân cư trú đông đúc, chủ yếu sống nghề nông và chài lưới. Sát bờ biển là các dải rừng phi lao chắn gió, râm mát giữ cát và gần đó còn có hệ thống sinh thái rừng ngập mặn.
Bờ biển Trà Cổ dài tới 17 km từ mũi Gót ở phía Bắc đến mũi Ngọc ở phía Nam, đủ sức chứa hàng vạn khách du lịch đến nghỉ mát, tắm biển. Do cách xa các thành phố , khu công nghiệp, bến cảng, nên Trà Cổ có khí hậu mát mẻ, nồng nàn hương biển và không gian tĩnh mịch và còn mang đậm nét "hoang sơ". ở nơi đây, chưa hề thấy sự hiện diện của "bãi biển thương mại", rất ít hàng quán, hàng bán rong. Nếu bạn muốn thưởng thức hải sản tươi sống, có thể mua được ở ngay bên bờ biển khi thuyền chài ngư dân đi đánh bắt về.
Nhiệt độ trung bình hàng năm ở Trà Cổ là 22,7oC, có 4 tháng nhiệt độ xuống tới 20oC (vào tháng 12 - tháng 3 năm sau), tháng nóng nhất vẫn là nhiệt độ lý tưởng với mức từ 26 - 28oC.
Nếu bạn đi nghỉ mát đúng vào dịp cuối tháng 5 âm lịch, bạn sẽ được tham gia "Hội làng Trà Cổ" diễn ra từ ngày 30/5 - 6/6 âm lịch. Ðoàn thuyền rước từ Trà Cổ lên đường đi về quê tổ Ðồ Sơn từ ngày 25/5, ngày 30/5 thì đoàn thuyền rước từ Ðồ Sơn trở về Trà Cổ và bắt đầu cho 6 ngày lễ hội tưng bừng đặc trưng cho đời sống ngư dân vùng biển.
2. Bãi tắm Cô Tô
Là tên riêng của một hòn đảo cũng là tên chung của huyện đảo Cô Tô (tỉnh Quảng Ninh) gồm trên 40 đảo lớn nhỏ thuộc hệ thống quần đảo Cô Tô - Thanh Lân. Ngoài thị trấn Cô Tô, huyện đảo còn có hai xã Thanh Lân và Đồng Tiến. Nằm cách TP Hạ Long chừng 150km, Cô Tô có chiều dài biên giới biển (với Trung Quốc) hơn 200km, nối với vùng biển huyện đảo Bạch Long Vĩ của TP Hải Phòng trở thành hải phận vịnh Bắc bộ.
Sách Đại Nam nhất thống chí chép: “Đảo Chàng Sơn (Núi Chàng) tên Cô Tô xưa ở trong biển cả, phía đông huyện từ đảo Vân Đồn ra biển thuận gió thì đi bốn trống canh có thể đến. Có các đảo Đông Chàng, Tây Chàng, Bồ Cát bao bọc. Đảo Chàng tục gọi là đảo Hùng, thuyền đi phải hai ngày mới khắp. Bốn mặt đảo đều là vụng biển lớn, thuyền biển qua lại hay đậu ở đấy. Đảo Tây Chàng có hai hòn, phía hữu là núi Tây Chàng, phía tả là đảo Thanh Lam. Ở giữa hai đảo có con sông gọi là sông Thông Đồng. Năm Thiệu Trị thứ 3 có hai đội binh tuần hải khai xuất. Đảo này rộng rãi, ruộng đất màu mỡ lại có nhiều cá mối”.

3. Bãi tắm Bãi Cháy
Là một bãi tắm nhân tạo rộng và đẹp nằm sát bờ vịnh Hạ Long. Bãi cát dài hơn 500 m, rộng 100 m. Hàng ngày vào buổi sáng sớm hay chiều tà, hàng ngàn người xuống đây tắm, bãi tắm trở nên náo nhiệt lạ thường.
Qua con đường trải nhựa, sát bờ vịnh là dải cát trắng và hàng phi lao xanh mát. Hiện nay công ty quốc tế Hoàng Gia đã đầu tư nhiều dịch vụ vào khu bãi biển này. Khu du lịch Bãi Cháy được qui hoạch thành một khu du lịch đẹp nhất thành phố Hạ Long bao gồm nhà hàng, nhà biểu diễn múa rối nước và ca nhạc dân tộc, công viên quốc tế Hoàng Gia, dịch vụ lướt ván và đi mô tô trên biển.
Cái tên Bãi Cháy có nhiều truyền thuyết khác nhau. Theo truyền thuyết xưa, Bãi Cháy chính là nơi đoàn thuyền lương của của quân Nguyên Mông do Trương Văn Hổ cầm đầu vào xâm lược Việt Nam đã bị Trần Khánh Dư cùng quân dân nhà Trần thiêu cháy và bị dạt vào bờ. Do nhiều thuyền giặc bị cháy, gió đông bắc lại thổi tạt lửa vào bờ phía tây Cửa Lục làm cháy luôn khu rừng đang hanh khô. Khu rừng bị cháy đó thành Bãi Cháy ngày nay.
Một truyền thuyết dân gian lại cho rằng trước đây tàu thuyền thường neo đậu vào bãi biển phía tây Cửa Lục. Dưới đáy và bên sườn thuyền thường có con hà bám vào rất chắc có thể ăn hỏng thuyền, vì thế dân chài phải lấy lá phi lao đốt xung quanh. Từ bên phía Hòn Gai và các nơi khác nhìn vào đó luôn luôn thấy lửa cháy rực lên nên gọi nơi này là Bãi Cháy.

4. Quần đảo Cát Bà
Là quần thể gồm 367 đảo trong đó có đảo Cát Bà ở phía Nam vịnh Hạ Long), ngoài khơi thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh, cách trung tâm thành phố Hải Phòng khoảng 30 km, cách thành phố Hạ Long khoảng 25 km. Về mặt hành chính, quần đảo thuộc huyện đảo Cát Hải, thành phố Hải Phòng.
Quần đảo có tọa độ 106°52′- 107°07′Đông, 20°42′- 20°54′độ vĩ Bắc. Diện tích khoảng gần 300 km². Dân số 8.400 người (năm 1996). Các đảo nhỏ khác: hòn Cát Ông, hòn Cát Đuối, hòn Mây, hòn Quai Xanh, hòn Tai Kéo,...
Cát Bà, còn gọi là đảo Ngọc, là hòn đảo lớn nhất trên tổng số 1.969 đảo trên vịnh Hạ Long.
Cát Bà là một hòn đảo đẹp và thơ mộng, nằm ở độ cao trung bình 70 m so với mực nước biển (dao động trong khoảng 0-331 m). Trên đảo này có thị trấn Cát Bà ở phía đông nam (trông ra vịnh Lan Hạ) và 6 xã: Gia Luận, Hiền Hào, Phù Long, Trân Châu, Việt Hải, Xuân Đám. Cư dân chủ yếu là người Kinh.
Có thể đến Cát Bà bằng hai loại phương tiện giao thông:
• Đi tàu thủy từ Vịnh Hạ Long hoặc từ cầu Bính Hải Phòng;
• Cách khác là đi đường bộ từ Hải Phòng, qua phà cắt ngang cửa sông Bạch Đằng với 2 chuyến phà, bao ồm phà Bính nối Hải Phòng với đảo Cát Hải, và phà Đình Vũ nối đảo Cát Hải với đảo Cát Bà.
Tương truyền xưa kia tên đảo là Các Bà, là hậu phương cho Các Ông theo Thánh Gióng đánh giặc Ân. Ở thị trấn Cát Bà hiện nay có đền Các Bà. Các bản đồ hành chính thời Pháp thuộc (như bản đồ năm 1938) còn ghi là Các Bà. Như vậy có lẽ tên gọi Các Bà đã bị đọc trệch thành Cát Bà.
Trước đây đảo Cát Bà thuộc huyện Cát Bà, năm 1977 mới sáp nhập với huyện Cát Hải thành huyện Cát Hải mới. Trước đây đảo thuộc tỉnh Quảng Yên, sau thuộc khu Hồng Quảng, đến năm 1956 mới chuyển về thành phố Hải Phòng.
Thị trấn Cát Bà hiện nay là huyện lị huyện Cát Hải. Trước năm 1945, thị trấn Cát Bà là phố Cát Bà, rồi đại lý Cát Bà thuộc huyện Cát Hải, tỉnh Quảng Yên. Sau năm 1945, trở thành thị xã Cát Bà. Đến năm 1957 thị xã Cát Bà đổi thành thị trấn và huyện Cát Bà mới thành lập.
Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa chịu ảnh hưởng của đại dương nên các chỉ số trung bình về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa cũng tương đương như các khu vực xung quanh, tuy nhiên có đặc điểm là mùa đông thì ít lạnh hơn và mùa hè thì ít nóng hơn so với đất liền. Cụ thể là:
• Lượng mưa: 1.700-1.800 mm/năm, dao động theo mùa. Mùa mưa chủ yếu là tháng 7, 8.
• Nhiệt độ trung bình: 25-28°C, dao động theo mùa. Về mùa hè có thể lên trên 30°C, về mùa đông trung bình 15-20°C nhưng có thời điểm có thể xuống dưới 10°C (khi có gió mùa đông bắc).
• Độ ẩm trung bình: 85%.
• Dao động của thủy triều: 3,3-3,9 mét.
• Độ mặn nước biển: Từ 0,930% (mùa mưa) đến 3,111% (mùa khô)
Trên đảo chính Cát Bà có rừng nguyên sinh trên núi đá vôi là một nơi đang được đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái. Phía Đông Nam của đảo có vịnh Lan Hạ, phía Tây Nam có vịnh Cát Gia có một số bãi cát nhỏ nhưng sạch, sóng không lớn thuận tiện cho phát triển du lịch tắm biển, nghỉ dưỡng. Trên biển xuất hiện nhiều núi đá vôi đẹp tương tự vịnh Hạ Long và Bái Tử Long. Ở một số đảo nhỏ, cũng có nhiều bãi tắm đẹp.


Con đường độc đạo chạy ven biển và xuyên qua đảo Cát Bà
• Đường xuyên đảo Cát Bà: dài 27 km, có nhiều đèo dốc quanh co, xuống khoăn, qua áng, men theo mép biển, xuyên qua vườn quốc gia, phong cảnh kỳ thú, non nước hữu tình.
• Vườn quốc gia Cát Bà: có diện tích 15.200 ha, trong đó có 9.000 ha rừng, 5.400 ha biển tạo nên một môi trường sinh thái lý tưởng.
• Động Trung Trang: Nằm cách thị trấn 15 km cạnh đường xuyên đảo, có nhiều nhũ đá thiên nhiên. Động này có thể chứa hàng trăm người.
• Động Hùng Sơn: Cách thị trấn 13 km, trên đường xuyên đảo. Động còn có tên Động Quân Y vì trong Chiến tranh Việt Nam người ta đã xây cả một bệnh viện hàng trăm giường nằm ở trong lòng núi.
• Động Phù Long (Cái Viềng) mới tìm ra, được cho là đẹp hơn động Trung Trang.


Bãi tắm Cát Cò 3
• Các bãi tắm: Cát Cò 1, Cát Cò 2, Cát Dứa, Cát Ông, Cát Trai Gái, Đường Danh v.v... là những bãi tắm nhỏ, đẹp, kín đáo, có nhiều mưa, che nắng, cát trắng mịn, nước biển có độ mặn cao, trong suốt tới đáy. Người ta dự định xây dựng ở đây những "thuỷ cung" để con người có thể trực tiếp quan sát các đàn cá heo, tôm hùm, rùa biển, mực ống, cá mập bơi lượn quanh những cụm san hô đỏ.


Một bãi tắm đẹp trên Đảo Khỉ thuộc quần đảo Cát Bà
Cát Bà với vẻ đẹp nguyên sơ và hùng vĩ, nó được mệnh danh là Hòn Ngọc của Vịnh Bắc Bộ
Quần đảo Cát Bà có rừng mưa nhiệt đới trên đảo đá vôi, rừng ngập mặn, các rặng san hô, thảm rong - cỏ biển, hệ thống hang động, tùng áng, là nơi hội tụ đầy đủ các giá trị bảo tồn đa dạng sinh học, bảo đảm các yêu cầu của khu dự trữ sinh quyển thế giới theo quy định của UNESCO.
Cát Bà đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới ngày 02 tháng 12 năm 2004. Ngày 1 tháng 4 năm 2005 tại đây đã diễn ra lễ đón nhận bằng quyết định của UNESCO và kỷ niệm sự kiện này. Việt Nam hiện có 06 khu dự trữ sinh quyển thế giới được UNESCO công nhận là: Cần Giờ, Cát Tiên, châu thổ sông Hồng, miền Tây Nghệ An, Kiên Giang và quần đảo Cát Bà.
Tổng diện tích khu dự trữ sinh quyển Cát Bà rộng hơn 26.000 ha, với 2 vùng lõi (bảo tồn nghiêm ngặt và không có tác động của con người), 2 vùng đệm (cho phép phát triển kinh tế hạn chế song kết hợp với bảo tồn) và 2 vùng chuyển tiếp (phát triển kinh tế). Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà là vùng hội tụ đầy đủ cả rừng mưa nhiệt đới trên đảo đá vôi, rừng ngập mặn, các rạn san hô, thảm rong và đặc biệt là hệ thống hang động.
5. Bãi tắm Đồ Sơn
Đồ Sơn là một quận của thành phố Hải Phòng, cách trung tâm thành phố khoảng 20 km về hướng đông nam. Đồ Sơn có một khu nghỉ mát gồm nhiều bãi biển có phong cảnh đẹp ở miền bắc Việt Nam.
Quận Đồ Sơn được thành lập ngày 12 tháng 9 năm 2007 trên cơ sở toàn bộ diện tích của thị xã Đồ Sơn cũ theo nghị định 145/2007/NĐ-CP của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam.
Đồ Sơn là một bán đảo nhỏ do dãy núi Rồng vươn dài ra biển tới 5 km, với hàng chục mỏm đồi cao từ 25 đến 130 m.
Về phía tây và tây bắc, quận Đồ Sơn tiếp giáp với huyện Kiến Thụy, các hướng còn lại tiếp giáp với biển Đông. Do ở phía bắc và phía nam của quận là hai cửa sông Lạch Tray và Văn Úc thuộc hệ thống sông Thái Bình đổ ra biển đem theo nhiều phù sa nên nước biển ở khu vực này đục nhưng vẫn có sức thu hút du khách.
• Đồ Sơn có bãi cát khá mịn, với nhiều loại cây như phi lao, bàng, dừa trồng ven bờ. Đằng sau bãi biển là những ngọn núi và đồi thông. Trước đây Đồ Sơn là nơi lui tới nghỉ ngơi, hưởng thụ của vua chúa quan lại. Hiện nay còn ngôi nhà bát giác kiên cố của Bảo Đại - ông vua cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam.
• Bãi tắm Đồ Sơn chia làm 3 khu chính: khu 1 nằm ngay đầu thị xã Đồ Sơn, khu 2 có nhiều khách sạn hiện đại, khu 3 yên tĩnh và kín đáo. Vào mùa hè, Đồ Sơn rất đông du khách từ khắp mọi miền Việt Nam cũng như khách quốc tế về đây tắm biển, nghỉ ngơi và leo núi, ngắm nhìn phong cảnh biển đẹp buổi chiều tà.
• Hàng năm ở Đồ Sơn còn lễ hội đảo Dấu. Vào ngày này, người dân Đồ Sơn nói riêng và người dân buôn bán khắp nơi đi thuyền ra đảo cúng và thắp hương cầu may cho một năm buôn bán thuận lợi và sức khỏe bình an.
• Đồ Sơn còn có đền bà Đế, hằng năm thu hút rất nhiều người viếng thăm.
• Tại đây hiện nay có sòng bạc Do Son Casino duy nhất ở miền Bắc Việt Nam, phục vụ cho du khách quốc tế.
• Từ Đồ Sơn bằng tàu cao tốc du khách có thể đi ra đảo Dấu, Cát Bà hoặc vịnh Hạ Long.
6. Bãi tắm Đồng Châu
Bãi biển Đồng Châu thuộc huyện Tiền Hải, cách thị xã Thái Bình chừng 30 km (18.8 miles) đi theo quốc lộ 39B. Bãi tắm chạy dài 5 km (3 miles), mang nhiều nét hoang sơ.
Điều thú vị nhất là từ bãi tắm Đồng Châu, du khách có thể đi tàu xuồng gắn máy ra thăm và tắm biển ở cồn Thủ và cồn Vành cách đất liền 7 km (4.4 miles). Cồn Thủ và cồn Vành nổi lên như 2 ngọn sóng xanh trên cồn cát rộng khoảng 5 ha. Trên cồn có rừng thông, phi lao xanh ngát, có những bãi tắm nhỏ yên tĩnh thơ mộng. Bãi biển Đồng Châu không đẹp lắm nhưng khí hậu thật trong lành. Bãi tắm luôn luôn lộng gió rất thích hợp cho việc nghỉ ngơi, dưỡng bệnh. Đặc biệt hải sản ở đây rất ngon và rất rẻ.
7. Bãi tắm Thịnh Long
Từ thành phố Nam Định theo đường 21 đến thị trấn Hải Thịnh thuộc huyện Hải Hậu là đến bãi tắm Thịnh Long
Thịnh Long là bãi tắm mới mới đưa vào khai thác và sử dụng vài năm trở lại đây. Bãi tắm Thịnh Long có cát mịn, thoải dài hàng cây số. Nước biển có độ mặn cao, sóng lớn, hấp dẫn khách trong mùa hè oi bức. Du khách đến với biển Thịnh Long được thưởng thức những hương vị nguyên sơ, vẻ đẹp thuần khiết và khoáng đạt. Đặc biệt hải sản nơi đây đăc biệt nhiều và rẻ.
8. Bãi tắm Sầm Sơn
Thiên nhiên đã ưu ái cho Sầm Sơn một bãi biển kỳ thú, nên thơ cùng với nhiều tích sử - một tài sản vô giá của Sầm Sơn từ ngàn xưa để lại. Trong lần về thăm và làm việc với tỉnh Thanh Hoá (ngày 17 - 19 tháng 7 năm 1960),

khi nghỉ lại đền Cô Tiên - Sầm Sơn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: "Nếu nơi đây có một hệ thống dịch vụ khách sạn và có phương tiện đưa đón khách nghỉ mát để tới Hòn Mê thì sẽ thu được nhiều của cải từ đây...". Khắc ghi lời dạy của Người, Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân Sầm Sơn đã từng bước phát huy thế mạnh kinh tế biển, đưa ngành du lịch - thuỷ sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Nằm trên bờ Vịnh Bắc Bộ, địa hình Sầm Sơn tương đối bằng phẳng, là vùng sơn thuỷ hữu tình với khí hậu trong lành, dải bờ biển cát vàng thoai thoải, nước trong xanh soi bóng núi Trường Lệ với những di tích văn hoá đã được xếp hạng quốc gia (Ðền Ðộc Cước, Ðền Cô Tiên, Hòn Trống Mái...). Hơn nữa, biển Sầm Sơn bao la là nơi trực tiếp cung cấp nguồn hải sản phong phú như tôm, cá mực, cua, các loại hải sản quý khác... Mặt khác, Sầm Sơn có bề dày lịch sử, truyền thống văn hoá lâu đời, với các hoạt động văn hoá mang đậm bản sắc quê hương như lễ hội bánh chưng - bánh dày (ngày 12-5 âm lịch hàng năm). Với những lợi thế này, Sầm Sơn có nhiều ưu thế trong sự phát triển của ngành du lịch và thuỷ sản.
Trước thế kỷ XX, địa danh Sầm Sơn chưa xuất hiện trên bản đồ địa lý Việt Nam, chỉ có dãy núi Gầm án ngữ phía Nam vùng đất này mà ngư dân đi biển quen gọi là Mũi Gầm, sau dần dần đổi thành núi Sầm - Sầm Sơn, địa danh này cũng còn được gọi là núi Trường Lệ (làng chân núi này cũng gọi là Làng Núi hay làng Trường Lệ). Xưa kia vùng đất này thuộc huyện Quảng Xương. Thị xã Sầm Sơn chính thức được thành lập ngày 18-12-1981 theo Quyết định số 157/QÐ/HÐBT. Sầm Sơn cách thành phố Thanh Hoá 16 km về phía Ðông. Diện tích tự nhiên khoảng 18 km2, phía Bắc giáp sông Mã, phía Ðông và Nam giáp biển Ðông, phía Tây giáp huyện Quảng Xương. Sầm Sơn có 3 phường và 2 xã. Dân số năm 2002 khoảng 56.595 người.
9. Bãi tắm Cửa Lò
Thị xã Cửa Lò nằm trên bờ biển Đông được ôm gọn bởi hai cửa biển: Cửa Lò ở phía Bắc và Cửa Hội ở phía Nam. Bãi tắm Cửa Lò dài đến 10km có độ dốc thoai thoải, cát trắng phau, mịn màng được viền bởi những rặng phi lao xanh tươi. Biển Cửa Lò trong xanh suốt đáy và có độ mặn cao. Đây là một trong những nơi nghỉ mát có bãi tắm lý tưởng nhất ở nước ta. Chính vì vậy mà năm 1907, người Pháp đã nhận ra nơi đây là vùng biển đẹp và thích hợp cho việc an dưỡng nên họ đã xây nhiều biệt thự để phục vụ cho các quan chức thực dân.
Về phía Bắc Cửa Lò là đảo Lan Châu. Những lúc thủy triều lên cao, toàn đảo như chìm trong làn nước. Về phía Đông Nam, cách bờ chừng 4km là đảo Song Ngư trông như một con cá khổng lồ che chắn bão to gió lớn cho Cửa Hội. Xa xa ngoài khơi chừng 20km là đảo Mát, như một chấm xanh sậm tô điểm trên mặt biển bao la.
Từ Cửa Lò, du khách theo đường nhựa đi về phía Tây độ 2km sẽ gặp di tích lịch sử, có kiến trúc thật độc đáo được xếp hạng di tích quốc gia. Đó là đền thờ Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí, một tướng lãnh tài ba của Bình Định vương Lê Lợi trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Phía hữu ngạn sông Cửa Lò, cách bờ chừng 500m có ngôi đền thờ Thái úy Nguyễn Sư Hồi, con trai trưởng của Nguyễn Xí, người đã có công khai phá và sáng lập nên các làng Vạn Lộc và Tân Lộc. Về sau, Nguyễn Sư Hồi làm đến chức Trấn thủ thập nhị hải môn cai quản 12 cửa biển từ Sầm Sơn (Thanh Hóa) vào đến Cửa Tùng (Quảng Trị).
Cửa Lò được nâng lên thành thị xã vào năm 1994 từ một vùng đất hoang sơ và nghèo khó. Địa danh Cửa Lò dường như còn quá xa lạ đối với khách du lịch. Có người cho rằng, Cửa Lò là trại âm từ cửa gió lùa gọi gọn lại là cửa lùa, nhưng khi phát âm thì chệch thành Cửa Lò. Lúc lập bản đồ địa chí, tên chính thức Cửa Lò đã được ghi lên bản đồ. Có giả thiết cho rằng, ngày xưa, ở cửa sông có nhiều lò muối của ngư dân cho nên địa danh Cửa Lò có nguồn gốc từ đây.
Ngày nay, Cửa Lò không những là một cảng biển quan trọng mà còn là khu du lịch tắm biển rất hấp dẫn thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước. Có trên 70 khách sạn và nhà nghỉ đủ loại, trong đó có nhiều khách sạn đạt tiêu chuẩn quốc tế. Trong phương hướng đến năm 2010, tỷ trọng kinh tế trong ngành du lịch - dịch vụ Cửa Lò sẽ chiếm 60% ngân sách của thị xã.
Du lịch đến Cửa Lò bằng đủ phương tiện như tàu thủy, tàu hỏa, ô tô đều thuận lợi. Ở đây có du thuyền chở khách ra đảo Song Ngư, sang bến Cửa Lò hoặc ra thăm đảo Mát - nơi còn giữ nhiều nét hoang sơ, hấp dẫn những tua du lịch sinh thái. Du khách cũng có thể dùng du thuyền ngược dòng sông Lam lên bến Giang Đình thăm quê hương đại thi hào Nguyễn Du, ngược Bến Thủy ngắm cảnh núi Hồng Lĩnh, núi Dũng Quyết với Phượng Hoàng Trung Đô của Quang Trung - Nguyễn Huệ, lên ngã ba Chế ngắm cảnh Lam Thành sơn, ngược lên núi Đụn, Sa Nam thăm miếu mộ Mai Hắc Đế, thăm di tích nhà yêu nước Phan Bội Châu, đặc biệt là thăm làng Kim Liên quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Cửa Lò cũng rất phong phú các món ăn đặc sản biển, mùa nào thức nấy, luôn luôn sẵn sàng phục vụ thực khách. Hàng năm, vào ngày 1 tháng 5, Ngày Quốc tế Lao động cũng là ngày mở hội sông nước Cửa Lò để khai trương mùa du lịch tắm biển. Lễ hội gồm các trò vui chơi truyền thống và đua thuyền đậm đà bản sắc văn hóa vùng biển xứ Nghệ.
Cửa Lò đang đô thị hóa thật nhanh chóng. Trong tương lai, Cửa Lò sẽ hình thành khu công nghiệp cảng biển hiện đại nối Cửa Lò, Cửa Hội với đảo Ngư bằng những cầu cảng liên hoàn và hệ thống thiết bị hiện đại để đón nhận các loại tàu vận tải hơn một vạn tấn ra vào cảng dễ dàng. Theo đó, các nhà máy đông lạnh, chế biến hải sản và các cơ sở bảo dưỡng, sửa chữa, đóng mới tàu thuyền cũng hình thành. Các trung tâm dịch vụ tài chánh và các cơ sở dịch vụ du lịch ăn ở, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí cũng mọc lên. Lúc đó, bãi tắm sẽ kéo dài theo rừng cây ven biển và các cơ sở dịch vụ sẽ tiếp nối suốt chiều dài bờ biển trên 10km.
Trong tương lai không xa, chắc chắn Cửa Lò sẽ trở thành một trung tâm nghỉ mát - du lịch có tầm cỡ ở nước ta.
10. Bãi tắm Thiên Cầm
Bãi biển Thiên cầm là một bãi biển thuộc tỉnh Hà Tĩnh.
Vào thời Vua Hùng thứ 13, qua đây nghe gió, sóng biển và tiếng lá thông reo cùng dội vào vách núi tạo nên một bản nhạc du dương, ngỡ như tiên gẩy đàn. Nhà Vua lệnh cho quần thần leo lên núi thấy giống chiếc đàn tỳ bà, liền hạ bút phê ba chữ Thiên Cầm Sơn. "Thiên cầm" có nghĩa là "đàn trời".
• Bãi biển cách Hà Tĩnh 20 km về phía Đông Nam, theo quốc lộ 1A, là bãi biển mang dáng vẻ hoang sơ.
• Sát bờ biển là núi Thiên Cầm hùng vỹ, trên núi có bàn cơ tiên, có dấu chân trái của người khổng lồ in trên phiến đá qua hàng triệu năm giờ vẫn rõ.
• Có đảo nhỏ Hòn Én, Hòn Bớ gần bờ biển rất đẹp.
• Có chùa Yên Lạc xây dựng từ thế kỷ 13 gần bãi tắm, chùa có bộ tranh "Thập Điện Diêm Vương" nổi tiếng (sống trên đời và sự trừng phạt dưới âm phủ)
• Trên núi Thiên Cầm có đền Cầm Sơn được xây dựng từ trước thế kỷ thứ 13, hay còn gọi là đền cha con Hồ Quý Ly, nay còn thờ cả phật và có tên là chùa Cầm Sơn. Núi cao 108 m so với mực nước biển, đứng đỉnh núi có thể nhìn rõ toàn bộ bãi biển và đảo gần đó.
• Bãi biển Thiên Cầm như hình cánh cung hay giống cây đàn cầm, có tới 3 bãi tắm, bãi chính dài 3 km đẹp, bãi khác dài khoảng 10 km, bãi cát trắng thoai thoải phẳng ít lồi lõm, nước biển xanh trong vắt màu ngọc bích, có thể nhìn xuống tận đáy, bờ biển thoai thoải, có thể tắm ở xa bờ hơn 100 m, nước biển có độ mặn rất cao.
• Cách bãi biển hơn 10 km có đập Hồ Kẻ Gỗ, nơi có phong cảnh sơn thủy hữu tình, nước trong xanh, có sóng giống như biển hồ.
11. Bãi tắm Thạch Hải
Bãi biển Thạch Hải bắt đầu từ núi Nam Giới và trải dài 4km về phía nam, cát mịn và bằng phẳng, có thể lội bộ xa bờ hàng trăm mét. Nước biển ở đây rất sạch. Dọc theo bãi biển là dãy phi lao chạy dài đến tận Thiên Cầm- Cửa Nhượng.

Tuy còn mới mẻ nhưng các cơ sở du lịch có thể phục vụ du khách khá thuận tiện. Đến đây bạn không thể không tắm biển. Thưởng thức các đặc sản biển như tôm hùm, cá thu, cá chim , mực, cua biển, ghẹ...mà có thể du ngoạn núi Nam Giới- nơi gắn bó với sự tích Chử Đồng Tử tu tiền đắc đạo, ngắm nhìn đỉnh Long Ngâm( núi Nam Giới) hình rồng hút nước biển Đông và viếng thăm đền thờ Chiêu Trưng Đại Vương- một công trình kiến trúc nghệ thuật nổi tiếng ở Hà Tĩnh.

Và không đâu thuận tiện bằng nơi đây, bởi từ thị xã, theo tỉnh lộ 16 tới đây chỉ có 10km...Ra khỏi thị xã Hà Tĩnh 3km, đến cầu Đồng Môn là ta đã bắt đầu nghe tiếng sóng vỗ từ Thạch Hải vọng về như nhắc nhở, như mời gọi mọi người hãy đừng lỡ dịp đến với bãi biển duyên dáng và tinh khôi này.
Đến Thạch Hải, du khách sẽ được ngắm nhìn bãi biển phẳng lỳ, nước trong vắt, cát trắng tinh khôi, sóng vỗ nhẹ nhàng hòa vào tiếng vi vu của rừng phi lao xanh ngắt rộng 60 - 70 m, chạy dài trên 10 km. Từ bãi tắm, du khách có thể tản bộ dọc theo bãi biển, dạo chơi trong rừng phi lao hoặc sử dụng các phương tiện cơ giới theo đường nhựa để đến với những điểm du lịch hấp dẫn trong quần thể khu du lịch.

Đi ngược về phía bắc, du khách sẽ đến điểm du lịch sinh thái Quỳnh Viên với nhiều khe suối, hang động đẹp như: khe Mưa Dông, ao Tăm, hang ông Duông, hang Lòn, hang Hớp, đền thờ vọng Lê Khôi,... Qua Quỳnh Viên là đền thờ Chiêu Trưng Đại vương, một di tích văn hóa nghệ thuật nổi tiếng đã được nhà nước xếp hạng. Du khách sẽ được thưởng ngoạn kiến trúc độc đáo của đền Lê Khôi được xây dựng từ thế kỷ XV (năm 1447) và thăm các đền Liễu Hạnh, Cá Ông, mũi Long Ngâm,... trong một không gian biển trời, non xanh, nước biếc hòa quyện, đền miếu hài hòa cổ kính mà thơ mộng. Tại khu lâm viên này, du khách có thể tham gia các loại hình giải trí như leo núi, câu cá và ngắm cảnh.

Đi ngược về phía nam, du khách có thể đến với bãi biển Thiên Cầm, tham quan di chỉ khảo cổ học Thạch Lạc, tham quan cơ sở nuôi trồng thủy sản của Công ty Việt Mỹ. Đêm xuống, du khách có thể chiêm ngưỡng "thành phố ánh sáng" được tạo nên bởi hàng trăm ngọn đèn đánh cá mực của ngư dân trên biển. Với những ai có tính hiếu kỳ, có thể đóng vai người dân chài, theo thuyền của ngư dân ra biển để có được những cảm giác mới mẻ, lý thú khi câu cá, mực về đêm.

Cuốn hút bằng sự thuận lợi và tiện nghi. Khu du lịch Thạch Hải không chỉ thu hút du khách bằng vẻ đẹp tự nhiên mà còn bằng sự tiện lợi đối với mọi loại hình và đối tượng du lịch. Bãi biển Thạch Hải cách thị xã Hà Tĩnh 10 km. Khoảng cách đó thật là lý tưởng, không quá gần đô thị để bị mất đi tính hồn hậu, hoang sơ và cũng không quá xa cho nhu cầu đi lại, giao dịch. Từ thị xã Hà Tĩnh, chỉ cần hơn 10 phút đi xe máy hoặc ôtô, du khách đã đến được bãi biển thơ mộng này. Khách ở gần có thể đưa gia đình bằng xe máy xuống tắm biển, ăn cháo cá, mực luộc kẹp bánh đa vào mỗi chiều hè sau giờ làm việc. Khách ở xa có thể đến đây để tắm biển, du lịch sinh thái và thưởng thức sự thi vị của đêm trong những căn nhà rộng ẩn mình dưới rừng phi lao. Khách du lịch sang trọng có thể vào nhà nghỉ Điện Lực với các tiện nghi hiện đại, tắm biển, thưởng thức đặc sản biển, chơi ten-nít, cầu lông, bóng chuyền,... Những ai chỉ quen với cuộc sống đô thị có thể thuê khách sạn ở thị xã và đi về chỉ trong vài chục phút.

Riêng với người dân thị xã Hà Tĩnh và các vùng lân cận, Thạch Hải là điểm thư giãn lý tưởng cho cả gia đình vào các kỳ nghỉ cuối tuần, thậm chí mỗi ngày trong suốt cả mùa hè. Vì thế, dù mới đưa vào khai thác 4 năm, nhưng khu du lịch sinh thái này đã thu hút trên 5 vạn lượt người trong và ngoài tỉnh đến tắm biển và du lịch vào mỗi mùa hè.

Một khu du lịch bãi biển có núi, rừng và quần thể di tích, bãi biển sạch đẹp, giao thông thuận tiện như Thạch Hải không có nhiều ở Việt Nam. Do đó, sau nhiều năm bị lãng quên, Thạch Hải đã được đánh giá đúng vị thế và tiềm năng vốn có. Việc phê duyệt quy hoạch chung Khu du lịch sinh thái biển Thạch Hải của Uỷ ban nhân dân tỉnh vào tháng 2-2002 đã đưa vùng biển này lọt vào tầm ngắm của các nhà đầu tư.

Cùng với sự phát triển đô thị ở thị xã và khu công nghiệp mỏ sắt Thạch Khê cũng như sự phát triển của đời sống xã hội trong tương lai, tiềm năng của Khu du lịch sinh thái biển Thạch Hải đã và đang thức dậy với sức vươn tích tụ từ hàng nghìn năm để trở thành một trong những điểm du lịch hấp dẫn du khách trong tương lai.

12. Bãi tắm Nhật Lệ
Bãi biển Nhật Lệ là tên một bãi biển tại Thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Bãi biển Nhật Lệ tọa lạc tại cửa sông Nhật Lệ. Bãi biển Nhật Lệ được thiên nhiên ban tặng bãi cát trắng và nước biển trong xanh còn hoang sơ. Để phục vụ du khách đến tắm biển tại khu vực này, một số dự án khu nghỉ mát biển đã được đầu tư xây dựng ở khu vực Bảo Ninh đối diện với bãi tắm Nhật Lệ qua sông Nhật Lệ.
13. Bãi tắm Cửa Tùng
Bãi biển Cửa Tùng là một bãi biển tại huyện làng Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, Bắc Trung Bộ, Việt Nam.
Đi theo đường bộ từ cầu Hiền Lương, một cây cầu lịch sử trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam nối đôi bờ sông Bến Hải Vĩnh Linh và Gio Linh, đi tiếp khoảng 10 km về phía Đông Bắc sẽ đến bãi biển Cửa Tùng.
Bãi biển Cửa Tùng được người pháp ca ngợi là "nữ hoàng bãi biển".
Cữa Tùng là một thực thể thiên nhiên sống động với những nét riêng biệt so với các bải tắm khác.
Nằm phía Bắc cửa biển, bãi tắm là một bãi cát thon dài nằm phơi mình dưới làn nước xanh. Ðây là một bãi tắm êm đềm bởi nó được bao bọc kỹ lưỡng bởi bà mẹ thiên nhiên. Hai bãi đá ngầm ăn sâu ra biển từ hai phía là Mũi Si và Mũi Lai đã tạo nên một cái vịnh nhỏ kín đáo và không có các dòng hải lưu cuốn xoáy.
Cữa tùng có cấu tạo địa chất đặc biệt. Những mũi đất đỏ bazan nhô ra biển tạo cho bãi biển rất nhiều cây xanh.
Độ thoải của biển Cửa Tùng cực lớn. Đi bộ từ phía bờ ra ngoài khơi đến 1 km, mực nước biển cũng chỉ tầm khoảng ngang ngực người.
Sát bên biển cữa tùng là làng biển Cát Sơn. Cư dân ở đây sống chủ yếu dựa vào những ngành nghề truyền thống như: Đánh cá, mộc, bịt trống, khảm xà cừ.
Hiện nay, biển Cửa Tùng đã có những thay đổi đáng kể dưới những nổ lực của chính quyền địa phương. Cây cầu Cửa Tùng và một tuyến đường bộ từ đường quấc lộ dẫn vào khu du lịch đã được xây dựng.Một cảng cá cũng đã được xây dựng để phát triển ngành đánh bắt cá của người dân nơi đây.
14. Bãi tắm Thuận An


Phố cổ Bao Vinh
Phương tiện để tới Biển Thuận An:
- Từ Huế đi xe máy hoặc ôtô: Từ cầu Trường Tiền về đến bãi tắm Thuận An: 12km theo QL.49. Khu nước nóng Mỹ An: 6km thuộc xã Phú Dương (Phú Vang) sát bên QL.49.
- Đi thuyền theo dòng sông Hương về đến bãi tắm Thuận An mất 1 giờ. Qua Vĩ Dạ, Cồn Hến, phố cổ Gia Hội, phố cổ Bao Vinh, Làng Sình...
Ở Huế mùa hè là mùa du lịch lý tưởng. Sau một ngày du ngoạn lăng tẩm, hoàng cung, chùa chiền... tốt nhất là hãy xuôi theo quốc lộ 49 về cửa Thuận An tắm biển.
Bãi biển chỉ cách thành phố 2 cây số đường nhựa. Qua khỏi Ðập Ðá đã cảm thấy mát rượi bởi ngọn gió sông Hương và mầu xanh của cây vườn Vĩ Dạ. Vượt sáu cây số qua huyện lỵ Phú Vang, những cánh đồng mênh mông hiện ra trải dài đến vùng đầm phá Tam Giang, đầm Chuồn, đầm Sam. Khu du lịch nước nóng Mỹ An sát bên đường đầy đủ các dịch vụ tắm đơn, đôi hoặc gia đình.
Xe chạy thêm 6 cây số nữa sẽ đến bãi tắm cửa Thuận An trải dài hơn hai cây số. Du khách có thể dừng lại ngay trước Trấn Hải Ðài để tham quan di tích lịch sử ghi dấu ngày Pháp chiếm Thuận An năm 1883. Thong thả thì có thể đi bộ dạo chơi qua đập Hòn Duân, công trình ghi nhớ trận lụt thế kỷ năm 1999. Bãi biển nơi đây được bồi đắp tự nhiên đang dần trở nên sạch và đẹp hơn. Những hàng quán bằng tranh tre nối liền đôi bờ dương liễu xanh rờn. Trước mặt là biển Ðông, sau lưng là đầm phá lộng gió.
Về đây du khách còn có cơ hội thưởng thức các món ăn hấp dẫn được chế biến từ những con ghẹ, mực, tôm vừa bắt ở biển, ở đầm phá lên còn tươi roi rói. Ðưa cay thì sẵn thứ rượu trắng làng Chuồn.

Lễ hội Làng Chuồn
Ðêm ở biển bình yên đến mức có thể nằm lăn ra cát ngủ một giấc vô tư tới sáng mai. Văn Cao và Nguyễn Tuân sinh thời đã về đây thức trắng đêm uống rượu Chuồn. Ðến Huế mà chưa đi tắm biển cửa Thuận, chưa thức cùng Tam Giang, chưa thưởng thức rượu Chuồn thì mới hiểu về Huế nửa chừng.
Thuận An là nơi thu hút rất đông người dân xứ Huế về hóng mát và tắm biển vào dịp hè. Thời kỳ tấp nập nhất ở đây thường kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9 lúc tiết trời nóng bức nhất. Ngoài ra du khách có thể đến tham quan miếu Thái Dương ở gần đó với sự tích nữ thần Thái Dương được dân làng hết sức sùng bái, hoặc thăm miếu Âm Linh thờ thần cá voi, con vật linh thiêng của dân miền biển.
15. Bãi tắm Lăng Cô
Bãi tắm Lăng Cô và phong cảnh tuyệt vời
"Lăng Cô" do đâu mà có?
Người ta nói rằng xưa kia ở đây là một làng ngư phủ có nhiều cò trắng bay về tụ hội sinh sống. Khi người Pháp tới xâm lược và chế ngự Thừa Thiên Huế, lúc ghi địa danh lên bản đồ, người Pháp ghi tiếng Việt là "Làng Cò" nhưng không bỏ dấu, thành ra là "Lang Co", lại đọc lên với giọng cứng ngắt, nghe như "Lang Cô", từ đó phát sinh tên Lăng Cô với giọng nặng người Thừa Thiên.
Bãi tắm Lăng Cô dài 10km, nằm cạnh quốc lộ 1A, dưới chân đèo Hải Vân (mặt Bắc), cách khu Bạch Mã 24km.
Bãi Lăng Cô có bờ biển thoải cát trắng, độ sâu trung bình chỉ dưới 1m vào mùa tắm biển, từ tháng 4 đến tháng 7, nhiệt độ trung bình 250c. Khu Vực biển Lăng Cô có đủ loại tôm ở Việt Nam và rất nhiều loài cá ngon... Gần bãi biển là thắng cảnh Chân Mây, làng cá Lăng Cô.
Nhiều du khách nói rằng "Lăng Cô đẹp hơn tranh thủy mặc", không có gì quá đáng vì đây là thực thể, một phong cảnh có hiện hữu.
16. Bãi tắm Non Nước
Bãi tắm Non Nước thuộc phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Bãi tắm Non Nước trải dài 5km, như một vòng cung xanh nằm dọc chân núi Ngũ Hành Sơn, bên thềm cát trắng.
Bãi tắm Non Nước với các tố chất có được từ độ sóng, khí hậu, thời tiết, độ mặn...nên phù hợp với các loại hình thể thao trên biển, nhất là môn trượt sóng (surfing). Vào năm 1993, tại đây đã diễn ra cuộc thi trượt sóng quốc tế với sự tham dự của gần 40 vận động viên đến từ nhiều nước trên thế giới. Đến với Non Nước, ngoài việc nghỉ ngơi, tắm biển, du khách còn có thể kết hợp viếng thăm thắng tích Ngũ Hành Sơn, nơi có những ngôi chùa cổ, các hang động, thâm nghiêm, hoành tráng; dạo quanh làng đá mỹ nghệ ngay dưới chân núi hoặc làm một cuộc du thuyền trên sông Cổ Cò để thả hồn cùng non nước Ngũ Hành Sơn

Quản lý và khai thác bãi tắm Non Nước hiện nay là Công ty Du lịch Non Nưóc. Công ty có cụm 3 khách sạn gồm hơn 100 phòng nghỉ ngay trước biển và các dịch vụ tắm biển, giải trí như: chụp ảnh lưu niệm, quầy bán hàng mỹ nghệ, massage, nhà hàng, sân tennis và một số dụng cụ tập thể dục, vui chơi trên biển...Ngoài ra, thành phố Đà Nẵng đã đưa vào hoạt động một khu du lịch liên hoàn bao gồm các loại hình khách sạn, nhà hàng ven biển, khu chiêu đãi ngoài trời, phòng họp, phòng hội thảo, hồ bơi, các sân tennis phục vụ du khách.
17. Bãi tắm Sơn Trà
Bãi biển Đà Nẵng là một chuỗi những bãi tắm đẹp nằm ở vị trí phía đông của thành phố Đà Nẵng, trải dài từ bán đảo Sơn Trà đến Non Nước, với chiều dài khoảng 30 km. Cụm bãi biển này từng được tạp chí Forbes (Mỹ) - Tạp chí kinh tế hàng đầu thế giới bình chọn là bãi biển đẹp nhất hành tinh. Bãi biển Đà Nẵng xứng đáng xếp cùng với những bãi biển đẹp của các quốc gia khác như Bahia (TP Trancoso, Brazil), Bondi (Sydney, Úc), Castelo (TP Albufeira, Bồ Đào Nha), Las Minitas (TP Casa de Campo, Dominica), Wailea (đảo Maui, bang Hawai, Mỹ)...

Dọc theo tuyến đường du lịch ven biển Sơn Trà - Điện Ngọc (Đà Nẵng) sẽ có 6 bãi tắm công cộng. Đó là quyết định mới nhất vừa được UBND Đà Nẵng thông qua theo sơ đồ ranh giới sử dụng đất dự án các bãi tắm công cộng.
Theo đó, tổng diện tích sử dụng đất của các bãi tắm này là 323.653m2 nằm dọc theo phía Đông đường du lịch ven biển Sơn Trà - Điện Ngọc, thuộc các khu vực Mân Thái, Mỹ Khuê, Phước Mỹ (Q.Sơn Trà) và Mỹ An, Hòa Hải (Q.Ngũ Hành Sơn). Trong đó, bãi tắm công cộng có diện tích lớn ở Đà Nẵng bao gồm bãi tắm T18, T20 và Sao Biển có diện tích rộng 153.764m2.
18. Bãi tắm Cửa Đại
Cách trung tâm đô thị cổ Hội An 5km về phía Đông, Cửa Đại từ lâu được biết đến là cửa ngõ của một thương cảng sầm uất vào bậc nhất của xứ Đàng Trong giao lưu với thế giới bên ngoài dưới tên gọi Faifo. Sau khi đi thăm quan các di tích, đình chùa, hội quán và những con đường phố hẹp cổ kính, từ phố cổ bạn có thể đến với bãi tắm Cửa Đại nơi đã và đang được đầu tư xây dựng thành Khu du lịch biển Hội An.
Nếu như phố cổ Hội An cổ kính, tĩnh lặng thì Khu du lịch biển Hội An trẻ trung và sống động, hấp dẫn du khách bởi vẻ đẹp hoang sơ trong lành và không gian rộng mở. Đây là bãi tắm lý tưởng rộng chừng vài mươi hecta, với dải cát trắng mịn, nước trong xanh, luôn đứng mặt trời chiếu sáng và lộng gió. Những năm qua, cảnh quan và môi trường nơi đây liên tục được cải thiện. Nhiều công trình phục vụ du lịch mọc lên: Khu du lịch Cẩm An, Victoria Hội An Resort... với những ngôi biệt thự mang dáng dấp làng quê Việt Nam nằm bên dòng sông Hoài hay bên bãi biển Cửa Đại đẹp và hữu tình. Dọc theo bờ cát trắng trải dài của biển, khu nghỉ mát Thắng Lợi được xây dựng như một làng ngư truyền thống, với những đường phố và ao hồ nhỏ bé đáng yêu, những ngôi nhà mái ngói xinh xắn. Các phòng của khu nghỉ mát rộng rãi, đa dạng kết hợp giữa phong cách Nhật, Pháp cổ điển, Việt Nam cổ xưa; kết hợp giữa sự tao nhã của nghề thủ công địa phương với sự tiện nghi hiện đại của tiêu chuẩn quốc tế làm tăng thêm vẻ đẹp vốn có nơi đây.
Trong tương lai gần, Công ty Du lịch Dịch vụ Hội An có kế hoạch tìm đối tác liên doanh để xây dựng khu du lịch sinh thái biển Hội An đạt tiêu chuẩn quốc tế 5 sao, góp phần mở rộng không gian du lịch giữa đô thị cổ Hội An với bãi biển Cửa Đại và đặc biệt là phát triển du lịch tại đảo cù lao Chàm và các vùng lân cận. Đến nơi đây, bạn sẽ được chiêm ngưỡng cảnh biển Cửa Đại đẹp và thơ mộng. Đặc biệt thức ăn biển ở đây tươi sống và rất đa dạng: cua rang muối, cá hồng hấp, nghêu nướng chấm muối chanh, tôm sú nướng, cá đối cồi hấp... ăn kèm chút rau sống trứ danh Trà Quế và nhấp ngụm rượu tăm Phước Trạch, bạn sẽ nhớ đời.
Đến khu du lịch biển Hội An, bạn còn có thể ghé thăm nhiều điểm du lịch hấp dẫn khác gần kề như: Làng mộc Kim Bồng, làng gốm Thanh Hà, làng chiếu hoa Bàn Thạch, làng đúc đồng Phước Kiều, làng rau Trà Quế... là những địa danh nổi tiếng với những sản phẩm truyền thống. Cách biển Cửa Đại khoảng 3km về phía tây nam là rừng dừa Bảy Mẫu - một địa danh gắn liền với những kỳ tích của đội du kích bất tử trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước... Ngoài ra, bạn sẽ bị lôi cuốn bởi các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của địa phương, kể cả các mặt hàng tơ lụa, đồ cổ và các bức họa. Con người nơi đây có nếp sống chừng mực, hài hòa và giản dị; niềm nở, hiếu khách mà thật thà, lịch sự. Ở đâu bạn cũng bắt gặp những nụ cười, những ánh mắt hiền hậu, những gương mặt tin cậy, cởi mở, dịu dàng.
Những năm qua khách du lịch mà phần lớn là khách quốc tế đến ngày càng đông, làm cho nơi đây càng thêm nhộn nhịp. Ai đó nói rằng: "Biển là nguồn cảm hứng du lịch vô tận". Đúng như vậy. Đứng trước biển xanh mênh mông và bao dung của Hội An, bạn có cảm giác rất thanh thản và thánh thiện. Biển và thiên nhiên như xóa đi bao ưu phiền của cuộc sống đời thường, làm cho bạn yêu đời, thư thái hơn. Chắc rằng khi đến đây, bạn sẽ cảm thấy vui vẻ, sảng khoái và có những ấn tượng đẹp, khó quên.
19. Bãi tắm Tam Thanh
Bãi tắm Tam Thanh thuộc xã Tam Thanh, thị xã Tam Kỳ - Quảng Nam, cách tỉnh lị Tam Kỳ 7km về phía đông. Bãi tắm sạch và đẹp, chan hòa ánh nắng với bãi tắm rộng hàng chục hécta, rất thích hợp cho xây dựng các khu du lịch sinh thái biển.
Mùa hè năm 2006, thị xã Tam Kỳ quyết định đưa tuyến xe buýt Tam Kỳ đi bãi tắm Tam Thanh vào phục vụ nhu cầu vui chơi, giải trí và tắm biển của nhân dân thị xã bắt đầu từ ngày 20-5.
Mỗi ngày hai chuyến xe buýt khởi hành từ Tam Kỳ đi bãi tắm Tam Thanh lúc 4g30 và từ Tam Thanh về lại Tam Kỳ lúc 6g30. Buổi chiều từ Tam Kỳ đi Tam Thanh lúc 17g và từ Tam Thanh về lại Tam Kỳ lúc 19g.
Lộ trình xe buýt bắt đầu từ Tam Kỳ (trước UBND tỉnh) qua các tuyến đường phố chính của Tam Kỳ (Hùng Vương, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu…), giá vé cả đi và về là 6.000 đồng/người. Trẻ em không thu tiền vé.
20. Bãi tắm Mỹ Khê
Bãi biển này thuộc thôn Cổ Lũy, xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh. Nó cách thành phố Quảng Ngãi 12 km về phía Đông, nằm bên cạnh sông Kinh. Mỹ Khê nằm trên quốc lộ 24B, cách cảng Dung Quất 16 km và gần cảng Sa Kỳ. Bãi biển này cách khu chứng tích Sơn Mỹ 3 km - nơi xảy ra vụ thảm sát Mỹ Lai đã từng làm chấn động dư luận thế giới.
• Mỹ Khê là tên gọi của xã Tịnh Khê dưới thời Việt Nam Cộng hòa.
• Tại Mỹ Khê có bãi tắm có cát mịn, thoải, được che chắn kín đáo, chạy dài 7 km, phía sau là rừng dương.
• Người Pháp đã từng so sánh bờ biển này với các bãi biển đầy nắng ở miền Nam nước Pháp và các ký giả người Mỹ đã nói rằng Mỹ Khê là một trong những bãi biển đẹp nhất Nam Việt Nam[cần dẫn nguồn].
• Tỉnh đã có qui hoạch tổng thể khu du lịch Mỹ Khê với diện tích 342 ha để xây dựng các khu vui chơi, giải trí và nghỉ ngơi như khách sạn Mỹ Khê, khu cắm trại. Khách nghỉ ở Mỹ Khê cũng có thể đi thăm quan khu chứng tích Sơn Mỹ gần đó.
• Năm 2003, Khu du lịch biển Mỹ Khê đã được đầu tư gần 24 tỷ đồng chủ yếu là nguồn vốn của Tổng cục du lịch Việt Nam nhằm thu hút các dự án đầu tư phát triển du lịch - dịch vụ. Hiện nay giai đoạn 1 của quá trình đầu tư vào khu du lịch đã hoàn thành. Tháng 8 năm 2007, tỉnh Quảng Ngãi đã chi 70 tỷ đồng (nguồn vốn thuộc chương trình mục tiêu quốc gia) nhằm đầu tư cơ sở hạ tầng bao gồm các hạng mục: điện, đường bờ tây sông Kinh, kè hai bờ sông Kinh và hệ thống cấp nước của khu du lịch này.
• Hiện tại, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Ánh Sao và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đang thực hiện dự án khu du lịch biển tại đây.

Trong 2 ngày 26 và 27/8/2008, ở khu vực công viên biển Phạm Văn Đồng và bãi tắm Mỹ Khê diễn ra lễ khai trương bãi tắm du lịch Mỹ Khê.
Lễ khai trương có nhiều hoạt động như: đua thuyền rồng và lắc thúng trên biển, biểu diễn thể dục dưỡng sinh múa quạt, ca múa nhạc, vũ hội thanh niên...
21. Bãi tắm Hoàng Hậu
Nằm trong khu Ghềnh Ráng, cách trung tâm thành phố Quy Nhơn khoảng 3km về phía đông nam. Đây là bãi tắm được đánh giá là đẹp nhất ở tỉnh Bình Định.



Tương truyền rằng, trong những lần theo vua Bảo Đại đi kinh lý các tỉnh miền Trung, Nam Phương Hoàng Hậu đã chọn nơi đây làm bãi tắm cho riêng mình. Và bãi tắm Hoàng Hậu có tên gọi bắt nguồn từ đây.

Không bút nào tả được cảm giác tuyệt vời khi bạn giẫm bàn chân trần lên những viên đá tròn, nhẵn như trứng chim khổng lồ, nằm xếp lên nhau trên bãi biển. Hai bên ghềnh đá nhô cao như những chàng vệ sĩ hứng tấm lưng trần chắn những đợt sóng lớn liên tục xô vào bờ, tung lên cao những đám bọt trắng xóa như pháo thăng thiên. Đến đây bạn sẽ được đắm mình trong không gian yên tĩnh, hài hoà của gió núi và sóng biển. Bãi tắm Hoàng Hậu - món quà của thiên nhiên ưu đãi cho con người nơi đây.
22. Bãi tắm Mỹ Á (Long Thủy)
Vị trí: Thuộc địa phận xã An Phú, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.
Đặc điểm: Bãi biển Mỹ Á được xem là bãi tắm đẹp nhất Phú Yên.

Bãi biển Mỹ Á có cát trắng phau phau trải dài theo mép nước. Nước biển ở đây trong xanh, đáy thoai thoải, trải dài dưới bóng dừa xanh mát. Rừng dừa Mỹ Á hết sức thơ mộng, có thể ru hồn khách lãng du trong những đêm trăng thanh gió mát.
Ngoài khơi biển Mỹ Á là các đảo lớn, trong đó có đảo Hòn Chùa với diện tích 0,22km², nơi có cảnh quan đẹp với hệ sinh thái biển phong phú thuận lợi cho các hoạt động du lịch biển.
23. Bãi tắm Đại Lãnh
Trên đường thiên lý Nam - Bắc, vừa xuống đèo Cổ Mã, bên phải bỗng hiện ra một bãi biển trải dài đẹp "mê hồn", đến lưng chừng đỉnh đèo Cả ai cũng phải ngạc nhiên, trầm trồ trước bãi biển đẹp kỳ vĩ này.
Đại Lãnh quyến rũ

Nằm giữa đèo Cổ Mã ở phía nam và đèo Cả ở phía bắc, cách Nha Trang 80km (về phía bắc), phong cảnh Đại Lãnh từ thời vua Minh Mạng đã được liệt vào hàng danh thắng của đất nước và được chạm vào một trong chín đỉnh đồng ở Huế cách đây hơn một thế kỷ. Biển Đại Lãnh được xếp vào một trong những bãi biển đẹp nhất Việt Nam. Nhiều người nhận xét rằng, gần 3.000km bờ biển Việt Nam chưa có bãi tắm nào sạch và xanh như Đại Lãnh, bởi nơi đây còn nguyên sơ, cách xa khu dân cư, chưa bị ô nhiễm của nền công nghiệp. Bãi tắm Đại Lãnh có cát trắng mịn, nước biển trong xanh nhìn rõ tận đáy, độ thoai thoải ra xa. Điều đặc biệt là chạy theo quốc lộ 1A trước khi ra biển, những dòng suối nước ngọt có nguồn từ trên núi chảy xuống quanh năm không cạn, mát lạnh và nằm ẩn mình trong rừng thùy dương xanh ngắt, tạo nên khung cảnh thật nên thơ.

Buổi sáng ở Đại Lãnh thật tĩnh mịch, yên ả, chỉ có tiếng hàng dương vi vu, sóng vỗ rì rào. Buổi trưa biển xanh đến "nhức mắt", nắng ngập tràn, bầu trời như cao thêm, tuyệt đẹp. Buổi chiều, biển chuyển sang màu xanh nhẹ, gió từ đại dương thổi vào mát rượi. Chiều xuống, cảnh núi non, biển cả thật thơ mộng, khiến lữ khách phải xao xuyến. Đại Lãnh bây giờ không chỉ là nơi nghỉ chân của nhiều chuyến xe trên chặng đường dài mà còn là điểm du lịch đang được các công ty du lịch tại TP.HCM, Nha Trang khai thác, xem như điểm tắm biển mới ở Khánh Hòa, rất thu hút du khách.
Vũng Rô non xanh nước biếc

Đã đến được Đại Lãnh mà không lên đèo Cả để nhìn toàn cảnh Vũng Rô và núi Đá Bia - Thạch Bi Sơn thì thật uổng công! Là một nhánh của dãy Trường Sơn, núi Đá Bia nhô hẳn ra biển Đông, kéo dài, tạo thành một bán đảo che chắn gió cho Vũng Rô. Bởi vậy, cảng Vũng Rô tuy rất sâu - nơi sâu nhất có thể tới 15, 16m - mà vẫn quanh năm sóng yên biển lặng. Trước năm 1975, đây từng là cảng quân sự, tiếp tế hậu cần cho hàng loạt căn cứ quân sự kéo dài tới 20km.Và cũng thật thú vị khi du khách còn biết rằng cũng chính nơi đây, Vũng Rô còn là một "bến cảng" tiếp nhận vũ khí, đạn dược và phương tiện chiến đấu khác từ miền Bắc gửi vào, chi viện cho chiến trường Quân khu 5. Biết bao tấn vũ khí, đạn dược, muối gạo, thuốc men đã bốc lên từ cảng Vũng Rô và vận chuyển trên đoạn đường này để đến tay các chiến sĩ giải phóng, các chiến sĩ tự vệ mật trong các căn cứ cách mạng và đô thị. Ở Vũng Rô hiện còn xác một con tàu không số từ miền Bắc vào bị lộ. Các chiến sĩ ta đã tranh thủ bốc hết hàng, đặt bộc phá đánh đắm tàu, đặt thuốc nổ đánh sập cửa khoang, không cho địch cướp vũ khí còn lại ở trong khoang, sau khi đã chuyển một phần lên căn cứ.
Từ lưng chừng đèo Cả (ở phía nam), du khách hãy dừng chân, phóng tầm mắt ra xa ngắm toàn cảnh Vũng Rô hùng vĩ, núi Đá Bia uy nghi, những đảo xa, đảo gần, quy tụ lại, tạo nên một bức tranh tuyệt đẹp, với trời cao, biển rộng, núi biếc, non ngàn, mà hoài niệm Vũng Rô và Thạch Bi Sơn đã bao phen chứng kiến những bước thăng trầm của lịch sử đất nước, tạo nên những điển tích còn lưu mãi đến ngàn đời sau.
Không phải ngẫu nhiên mà Tổ chức Du lịch thế giới đã đánh giá Đại Lãnh, Vũng Rô (nằm trong cụm du lịch liên hoàn Văn Phong - Đại Lãnh - Vũng Rô) là một trong những thắng cảnh nghỉ ngơi đẹp nhất khu vực châu Á và Viễn Đông, vượt xa biển Phuket (Thái Lan) và có thể so sánh với những thắng cảnh tuyệt vời khác trên thế giới.
24. Bãi tắm Ninh Chữ
Bãi biển Ninh Chữ nằm ở xã Khánh Hải, huyện Ninh Hải, cách thị xã Phan Rang - Tháp Chàm 6 km về phía Đông, là 1 trong 9 bãi tắm đẹp nhất của Việt Nam, có chiều dài 10 km, bờ biển bằng phẳng hình vòng cung, nước trong xanh, cát trắng mịn, không khí trong lành, quanh năm sóng vỗ rì rào.
Nơi đây có khách sạn Ninh Chữ (đạt tiêu chuẩn 2 sao ) và những bungalow xinh xắn, tiện nghi, lịch sự, ẩn mình trong rừng dương xanh ngút ngàn, liền kề những cánh đồng lúa bát ngát, thoang thoảng hương thơm.
Bên cạnh bờ biển có :Đầm nại giàu tôm, cá, mực, núi đá Chồng, Tân An, Cà Đú, với những tảng đá lớn nhỏ xếp chồng chênh vênh và tạo thành một quần thể thiên nhiên đẹp mắt và hài hòa
25. Bãi tắm Mũi Né
Từ nhiều năm qua, mũi Né (Phan Thiết, Bình Thuận) đã trở thành địa điểm du lịch, nghỉ dưỡng nổi tiếng của Việt Nam. Chỉ mất khoảng 3 giờ đi xe ô tô là khách từ Thành phố Hồ Chí Minh có thể hòa mình trong không khí trong lành và cảnh quan thiên nhiên trữ tình của vùng biển xanh lộng gió. Dọc theo bờ biển mũi Né, các khách sạn và quần thể resort đã hình thành trong đó có những resort nổi tiếng như Victoria, Sài Gòn – mũi Né, Phú Hải...
Dựa vào ưu thế tuyệt vời mà thiên nhíên ban tặng cho vùng đất này, Công ty Xây dựng và kinh doanh nhà Minh Thành và Phú Hải Resort đã lập dự án xây dựng khu biệt thự Mũi Né với kinh phí đầu tư khoảng 250 tỉ đồng, thực hiện trong 2 năm và bắt đầu triển khai từ cuối năm 2003. Với dự án này, một khu biệt thự sang trọng đi liền với hệ thống cơ sở hạ tầng,các công trình công cộng, công trình kỹ thuật, sẽ được xây dựng theo tiêu chuẩn hiện đại,có tầm nhìn toàn cảnh biển. Khu biệt thự này nằm trên vùng đồi cây xanh, có độ cao khoảng 70 mét so với mặt biển, cách biển khoảng 700 m và cách trung tâm thành phố Phan Thiết khoảng 6 km. Có thể nói Dự án khu biệt thự mũi Né cung cấp cho khách hàng không chỉ một căn hộ cao cấp với nhiều tiện ích mà còn là một nơi nghỉ dưỡng lý tuởng trong khung cảnh thiên nhiên khoáng đãng. Đặc biệt, vấn đề an ninh được đặt lên hàng đầu với đội ngũ bảo vệ chuyên nghiệp hoạt động 24/24.
Khu biệt thự Mũi Né có tổng diện tích 120.000m2 được quy hoạch bao gồm các khu vực:
-Khu trung tâm với các công trình công cộng như phòng báo chí Intemet, nhà hàng, cafeteria,Câu lạc bộ với các dịch vụ y tế, thể dục thể hình, karaoke...,siêu thị mini, các bãi đỗ xe, 3 hồ bơi, 3 sân tennis, các công viên cây xanh.
-Khu biệt thự gồm 193 căn, phân làm các khu A, B, C, D, E.
- Các công trình kỹ thuật, công trình phục vụ
-Khu rừng phòng hộ rộng khoảng 2,5 ha.
Nối liền các khu vực là hệ thống đường nội bộ chất lượng tốt. Ngoài ra dự án còn xây dựng các con đường lớn nối làng biệt thự với các trục đường chính đi mũi Né và thành phố Phan Thiết.
Khu biệt thự mang phong cách kiến trúc miền Nam nước Pháp
Khu biệt thự mũi Né có tổng số 193 căn biệt thự một trệt, một lầu, được thiết kế mang đậm phong cách kiến trúc miền nam nước Pháp Côte d"Azur. Trong số đó, có 171 biệt thự đơn lập, song lập và 22 biệt thự phố.
Biệt thự đơn lập và song lập gồm 6 kiểu: biệt thự phòng ngủ (2 phương an kiến trúc), biệt thự 3 phòng ngủ (2 phương án),biệt thự 2 phòng ngủ. Biệt thự song lập có loại 2 phòng ngủ và loại 3 phòng ngủ. Biệt thự phố (liên kế) cũng gồm hai loại: 2 phòng ngủ và 3 phòng ngủ.
Về kích thước biệt thự, có nhiều loại diện tích khác nhau,nhỏ nhất là biệt thự có diện tích đất từ 191m2 tổng diện tích xây dựng 201m2 và lớn nhất là 660m2 (tổng diện tích xây dựng 305m2).
Biệt thự được xây dựng bằng các loại vật liệu chất lượng cao và những tiện nghi sang trọng. Chẳng hạn,các cửa đi, cửa sổ làm bằng gỗ căm xe; thiết bị bếp (bếp ga, máy hút mùi, lò nướng, lò vi sóng, tủ lạnh... của ELPA, AVM, Mitsubishi), thiết bị nhà tắm (bồn tắm, lavabo, bàn cầu. .) của hãng American San- dard; hệ thống điện âm, thoát nước cho máy lạnh, máy nước nóng; đèn chiếu sáng âm trần...
26. Bãi tắm Đồi Dương
Là bãi tắm thuộc Thành phố Phan Thiết bãi tắm này là điểm du lịch rất trẻ và đầy tiềm năng, được rất nhiều nhà chuyên môn và khách du lịch khắp nơi đánh giá rất cao.
Mục tiêu phát triển du lịch trên các bãi biển dọc theo thành phố mà thiên nhiên đã ưu đãi tặng cho Phan Thiết là một chiến lược hàng đầu mà Tỉnh Bình Thuận đang hướng đến. Chính vì thế, điều quan trọng nhất và đáng chú ý đến là chất lượng phục vụ của các bãi tắm như bãi tắm Đồi Dương phải an toàn, và đủ điều kiện tạo cho du khách có thể thoải mái tắm biển khi về Phan Thiết và ghé qua Đồi Dương.
27. Các bãi tắm ở Vũng Tàu
Bãi Trước
Là mặt tiền của Vũng Tàu, nằm về hướng tây-nam, còn gọi là bãi “Tầm Dương” - Tìm ánh mặt trời. Vào buổi bình minh và hoàng hôn, mặt trời đỏ rực như tan vào nước biển mênh mông. Bãi Trước như một nửa vành trăng tựa lưng vào đất liền, hai đầu là hai ngọn núi Tương Kỳ và Tao Phùng. Thiên nhiên sơn thuỷ hửu tình đã tạo cho Bãi Trước cảnh thơ mộng là bến đậu của những con tàu trở về sau những chuyến hải trình


Dọc Bãi Trước trồng nhiều dừa vì vậy trước đây còn có tên là vịnh Hàng Dừa. Giờ đây vẫn rợp bóng dừa và được điểm tô thêm màu xanh của những cây bàng, cây sứ. Bên dưới những bóng cây xanh rợp mát là một khu công viên đầy hoa dành cho khách bộ hành hóng mát... bên tiếng sóng biển du dương.

Trung tâm thành phố Vũng Tàu tọa lạc ở khu vực Bãi Trước với nhiều toà nhà, khách sạn mới, hiện đại được mọc lên càng tô điểm cho Bãi Trước một nét đẹp vừa xa xưa vừa hiện đại. Đêm về, dọc đại lộ Trần Phú, Quang Trung rực sáng với hệ thống đèn cao áp, trên các tòa nhà cao lộng gió, những quán cà phê rực rỡ muôn ánh đèn đủ sắc màu tỏa sáng lung linh cùng xa xa những chiếc tàu neo đậu với những vầng ánh sáng xanh đỏ tỏa lan trên mặt biển tạo cho bãi trước một vẻ đẹp thật quyến rũ về đêm.
Bãi sau
Nằm ở phía đông nam và còn có tên gọi “Bãi Thùy Vân". Bãi Sau dài 8 km, là bãi biển dài và thơ mộng nhất của Vũng Tàu. Nếu như biển ở Bãi Trước có nét đẹp lộng lẫy và rực rỡ thì Bãi Sau có nét đẹp dịu dàng của một vùng biển quanh năm đầy nắng ấm. Đại lộ Thùy Vân con đường đầy hoa chạy dọc theo Bãi Sau, một bên là những dãy phố sầm uất, nhà cao tầng,

khách sạn dáng vóc hiện đại, đầy đủ tiện nghi, một bên là bãi cát vàng và nhiều khu du lịch đủ các loại hình dịch vụ giải trí vui chơi trên biển… dành cho mọi lứa tuổi. Đặc biệt có một sân golf rộng hơn 100ha đạt tiêu chuẩn quốc tế.

Bãi Sau còn có khu rừng dương - một cánh rừng rộng với những cây phi lao cổ thụ xanh rợp trên nền cát trắng. Dưới rừng dương thấp thoáng những căn nhà nghỉ bằng gỗ, thiết kế theo kiểu nhà rông vừa tao nhã, vừa thanh lịch, đậm nét văn hóa của núi rừng Tây Nguyên, nhà được trang bị đủ tiện nghi, vừa hiện đại, vừa dân dã là chỗ dừng chân lý tưởng cho mọi du khách.

Bãi sau là nơi thu hút nhiều du khách lui tới vui chơi tắm biển nghỉ mát ở Bà Rịa – Vũng Tàu. Vào những các ngày tết, lễ, đón mừng năm mới… Bãi Sau tràn ngập người ghé đến, trên bờ cũng như dưới nước như không còn chỗ trống tạo nên một sức sống của một trung tâm du lịch nổi tiếng khắp nơi.
Bãi Dứa
Từ Bãi Trước, dọc theo đường Hạ Long là một trong những con đường đẹp nhất Việt Nam uốn lượn trên một đoạn triền núi lấn ra bờ biển sẽ đưa ta tới Bãi Dứa. Người xưa kể lại rằng sở dĩ có tên bãi Dứa, vì trước đây triền núi nhô ra biển rất nhiều những cây dứa dại (một loại cây có hương thơm như gạo nếp hoặc nàng hương) tỏa thơm ngát một vùng nên bãi này còn có tên gọi là Bãi Lãng Du là một bãi biển đẹp của Vũng Tàu.


Cái đẹp ở đây không ồn ào tấp nập mà là một vẽ đẹp mộng mơ, tĩnh lặng. Biển len lỏi trong các hẽm núi, ghềnh đá, tạo nên các vũng nhỏ ôm ấp những mạch nước ngầm trong suốt đang rí rách. Khung cảnh này rất hợp với những đôi tình nhân hay tuần trăng mật của những lứa đôi còn đang nồng nàn hương hoa ngày cưới. Phía trên triền núi dọc theo đại lộ Hạ Long là các nhà nghỉ, khách sạn theo kiểu biệt thự đầy đủ tiện nghi. Xen kẽ những ngôi chùa miếu khá nổi tiếng ở Vũng Tàu như Niết Bàn Tịnh Xá, miếu Ông Nam Hải... là những nơi dành cho khách mộ điệu hành hương về dâng hoa cầu phước, cầu lộc…

Ai đó đã đến Vũng Tàu cách đây dăm bảy năm bây giờ mới có dịp trở lại Bãi Dứa sẽ không khỏi ngạc nhiên trước sự đổi thay kỳ diệu. Đó là thành quả lao động sáng tạo, hòa quyện cùng thiên nhiên để tạo ra những cảnh quan tuyệt vời của Bãi Dứa.
Bãi Dâu
Nằm ở phía tây Núi Lớn, dọc theo đường Trần Phú, từ Bạch Dinh (Bãi Trước) đến Bãi Dâu xa chừng 3km. Bãi này trước đây gọi là bãi Vũng Mây, vì trên triền hòn Núi Lớn đoạn này có nhiều cây mây mọc. Vào khoảng những năm đầu thế kỷ XX, một thương nhân người Pháp đến đây lập cơ sở nuôi tằm và trồng rất nhiều dâu trên triền núi và dọc theo bờ biển nên dần theo thời gian tên Vũng Mây được thay thế bằng Bãi Dâu.

Ngày nay Bãi Dâu được mở rộng hơn, bao gồm những vịnh nhỏ khoảng giữa Núi Lớn. Do nằm bên triền núi ăn sát ra biển, Bãi Dâu được kiến tạo bởi nhiều vịnh nhỏ xinh xắn, những gộp đá nhỏ xen giữa triền cát vàng cát trắng mịn màng. Các bãi tắm ở đây kín gió, nhiều đoạn biển sát chân núi với những vách đá dựng đứng hoặc thoai thoải đón từng đợt sóng biển vỗ về bọt tung trắng xóa, tạo nên cảnh sắc sơn hải hữu tình. Đường Trần Phú uốn lượn cheo leo trên vách núi, một bên là biển cả mênh mông, một bên là núi rừng, cỏ cây xanh thẳm. Giữa khung cảnh núi rừng xanh ngắt nổi bật lên tượng Đức Mẹ Maria, Phật Bà Quan Âm hoà quyện bên tiếng sóng biển dạt dào, tiếng gió ngàn vi vút tạo nên một âm thanh vừa huyên náo, vừa tịch liêu làm thư thái tâm hồn du khách thập phương dù lần đầu ghé đến.

Dọc đường Trần Phú với cảnh sơn thuỷ hữu tình, bãi tắm nên thơ, những quán ăn với món ngon miền biển… thu hút được nhiều người tới du lịch thưởng ngoạn.
Nghinh Phong
Từ Niết Bàn Tịnh Xá, theo đại lộ Hạ Long qua hết Bãi Dứa là tới Nghinh Phong có nghĩa là "đón gió" thổi suốt bốn mùa. Như một cánh tay vươn dài ra biển, Nghinh Phong tạo thành hai bãi biển ở hướng tây và hướng đông. Đó là bãi Vọng Nguyệt (hay Ô Quắn) và bãi Hương Phong, xa xa là Hòn Bà - Bồng đảo nơi du khách có thể ghé đến vào những khi thuỷ triều hạ thấp.
Những đêm vào mùa trăng mọc, hay lúc hoàng hôn, biển ở đây sáng rực như được dát một lớp bạc óng ánh. Bên tiếng sóng rì rào, trước mặt biển sáng bạc mênh mông bao la của trời mây sóng nước làm người ta dễ lâng lâng bay bổng tâm hồn.

Ba mặt tiếp giáp với biển của Nghinh Phong là vách núi dựng đứng khá cao, đứng trên đường nhìn xuống ta cảm thấy biển ở đây như xanh hơn nơi khác, lộng gió và mát mẻ lạ thường. Bãi tắm ở đây trong và sâu là nơi dành cho người hiếu động, thích cảm giác mạnh từ những ngọn sóng dập dồn và rất thích hợp cho những người ưa thích bộ môn câu cá
28. Bãi tắm Long Hải
Bãi tắm Long Hải thuộc thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, cách thị xã Bà Rịa chừng 12km. Chạy dài, uốn l¬ợn phía Nam chân núi Thùy Vân, hay Kỳ Vân (ngày nay có tên Minh Đạm), bãi tắm Long Hải là một bãi biển sạch, đẹp, nước xanh trong. Từ đầu thế kỷ 20, các triệu phú của đất Sài Gòn như¬ chú Hỏa, các chủ đồn điền cao su, chủ ngân hàng đã về Long Hải mua đất xây lâu đài,

biệt thự làm nơi tắm biển và nghỉ đư¬ờng cuối tuần. Vua Bảo Đại cũng xây nhà nghỉ mát ở Long Hải.
Nối liền với bãi Long Hải là đèo Nư¬ớc Ngọt. Nơi đây núi đá v¬ơn ra biển thách thức cùng với sóng tạo nên phong cảnh vừa nên thơ vừa hùng vĩ. Phía bên kia đèo Nư¬ớc Ngọt là rừng hoa anh đào. Có lẽ đây là rừng hoa anh đào có một không hai ở các tỉnh phía Nam. Mỗi khi xuân về, từ trên đèo N¬ước Ngọt nhìn xuống, du khách không khỏi ngỡ ngàng tr¬ước màu tím trắng của anh đào, màu xanh của rừng và biển Long Hải.
29. Bãi tắm Côn Đảo
Côn Đảo có hơn 20 bãi tắm hoang sơ nằm theo nhiều hướng nên có chỗ khuất gió cho bạn tắm biển quang năm.
Những bãi tắm ở Vịnh Đầm Trầu, Bãi Nhát, Bãi Nhỏ, được xem là bãi tăm 5 sao với mặt nước trong xanh, bờ cát mịn trải dài, những vạt rừng nguyên sinh , những rạn san hô…ở những bãi tắm này, bạn không chỉ được vẫy vùng trong song biển, tắm nắng, mà còn được ngắm hoàng hôn, khám phá thế giới kỳ ảo dưới lòng đại dương.
Nếu chọn bãi tắm gần thị trấn cho những người mới tập bơi hay bơi gia đình, thì bãi bãi Lò Vôi sẽ là nơi thích hợp và an toàn nhất.
30. Bãi tắm Bãi Dương
Hà Tiên là thắng cảnh duy nhất ở Nam Bộ có gắn với cả một thị xã là Ðông Hồ . Và các thi nhân lớp trước đã chứng minh sức hút rất nên thơ của vùng biển xinh đẹp này.
Trên đường từ Rạch Giá đến Hà Tiên, người ta có thể chiêm ngưỡng những danh thắng đẹp nhất ở vùng biển này. Nơi đầu tiên có thể ghé thăm là Bãi Dương. Một bãi biển dài độ 2000 m, cách Hà Tiên chừng 30 km.
Bãi Dương có những hàng cây rủ bóng mát vi vu trong sóng và gió biển. Bãi cát trắng tinh khôi với làn nước biển xanh biếc. Bãi Dương không có đá ngầm nên bạn có thể tha hồ ngụp lặn, phơi nắng.
Từ Bãi Dương, đi một chút nữa, chúng ta ghé Bãi Dầu. Bãi Dầu là một bãi biển đẹp mà từ đây, ta có thể thấy cảnh trời đất, núi non hữu tình. Cuối Bãi Dầu này có một mỏm đất nhô ra phía biển với một ngọn đồi khá nên thơ mà người địa phương gọi là Hòn Trẹm. Ta có thể leo lên Hòn Trẹm mà ngắm cảnh trời mây non nước. Hay đi thêm chừng 1000 m nữa sẽ thấy Hòn Phụ Tử cách bờ chừng vài trăm mét.
Nếu du khách đi vào khu Nam Phố, cách Hà Tiên chừng 10 cây số nữa có thể đến tắm ở Bãi Hòn Heo và Bãi ›t cũng rất thú vị. Nơi đây có cảm giác như là những bãi biển nằm trong vịnh sâu, nhất là khu Bãi ›t, do bãi này được che chắn bởi dãy núi Bãi ›t nhô hẳn ra ngoài khơi. Chính vì thế mà người ta có thể đến đây tắm biển và nghỉ ngơi ngay cả trong những ngày biển động.
31. Bãi tắm Bãi Khem
Vị trí: Nằm ở phía nam đảo Phú Quốc, cách Dương Đông 25km, cách cảng An Thới 5km.
Đặc điểm: Là bãi tắm đẹp, nổi tiếng cát trắng và mịn như bột.
Ở bãi Khem, chen lẫn những bãi cát thỉnh thoảng nhô ra biển là những ghềnh đá nhấp nhô. Bãi Khem mang hình vòng cung với một viền cát trắng nổi bật giữa màu xanh cây rừng và biển khơi lồng lộng. Du khách tới đây có thể tắm biển, câu cá, bắt ốc và nổi lửa để thưởng thức các đặc sản này.


Phú Quốc hòn đảo ngọc: Phú Quốc cách Rạch Giá 120km đường biển. Phú Quốc còn gọi là: “hòn đảo ngọc”, vì nó có tiềm năng to lớn, vừa có nhiều cảnh đẹp. Thiên nhiên đã giành cho Phú Quốc nhiều ưu ái, Phú Quốc là một chuỗi hòn gồm 36 hòn đảo nhấp nhô trên vịnh Thái Lan, án ngữ vùng phía Nam thị xã Rạch Giá của tỉnh Kiên Giang.


Địa hình thiên nhiên Phú Quốc rất độc đáo, có thể làm hài lòng du khách trên mọi hành trình, chạy dài từ Nam đảo đến Bắc đảo là 99 ngọn đồi, núi nhấp nhô. Phú Quốc là đảo lớn nhất Kiên Giang. Đến Phú Quốc du khách có thể tắm biển, tắm suối, tắm sông, leo núi, vào hang, lên rừng, ra biển, … Có thể nói Phú Quốc có đủ các yếu tố lý tưởng dành cho khách du lịch. Phú Quốc có nhiều bãi tắm sạch và đẹp như: bãi Trường, bãi Khem, bãi Giếng Ngự, bãi Rạch Tràm,…Hấp dẫn nhất là bãi Trường với bãi cát vàng chạy dài gần 20km từ Dinh Cậu. Dinh Cậu, một di tích thờ cúng được kiến trúc lâu đời của người dân đảo tại phía Nam cửa sông. Chốn tôn nghiêm này tọa lạc trên ngọn núi nhỏ xinh xinh nhưng không kém phần kỳ bí. Từ Rạch Tràm đi sang bờ Đông của đảo, người ta sẽ gặp một cảnh quan mà thiên nhiên hào phóng đã ban cho những ai yêu mến một vùng đồi núi mang dáng vẻ kiêu sa, đó là Hòn Chông.
Đường đến Hàm Ninh thường làm cho du khách ngỡ mình đến với miền sơn cước, bởi những đồi núi và thung lũng hoang sơ nối tiếp nhau ở hai bên vệ đường. Nếu vào mùa mưa, người ta có thể nghe tiếng rì rầm của con suối chanh ở sát ven đường, là một trong những con suối đẹp một cách hoang dã của đảo. Không có đoàn du khách nào đi hết chiều dài của nó trừ dân địa phương. Ngoài ra còn có suối Đá Bàn quanh năm nước chảy róc rách, suối Tiên, suối Kỳ Đà, là những điểm du lịch thú vị.



32. Bãi tắm Ba Động

Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, từ Cần Giờ xuống tới Cà Mau, là vùng biển phù sa nhưng riêng Trà Vinh có những bãi cát dài và đẹp, thích hợp cho việc tắm biển và nghỉ mát. Trong đó, nổi tiếng nhất là bãi biển Ba Động. Ba Động là tên gọi chung của một bãi cát biển dài gần chục cây số, thuộc xã Trường Long Hòa, huyện Duyên Hải, cách thị xã Trà Vinh hơn 60 cây số về hướng Đông Nam.


Tại đây, từ đầu thế kỷ XX đã hình thành khu tắm biển, nghỉ dưỡng. Hiện nay, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch và người dân địa phương đã đầu tư hình thành khu du lịch với nhiều loại hình sản phẩm tiện dụng và phong phú như tắm biển, nhà hàng, khách sạn, giải trí, quà lưu niệm…

Từ những nhà hàng, khách sạn tiện nghi nép mình trong rừng dương rì rào gió biển, khách du lịch có thể phóng tầm mắt ra phía trùng dương thăm thẳm. Ở đó có những đoàn thuyền đánh cá ngày đêm ngược xuôi cần mẫn, mang nguồn lợi vô tận của biển khơi làm giàu cho quê hương, Tổ quốc. Từ khu du lịch này, du khách có thể thưởng thức nhiều loại đặc sản biển tươi sống với giá rẻ đến không ngờ. Từ Ba Động, du khách còn có thể tham gia những chuyến du khảo tìm hiểu lịch sử khai hoang mở đất và truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm hào hùng của xã “Trường Long Hòa sắt thép”, của huyện “Duyên Hải căn cứ anh hùng” với những chiến công như huyền thoại cùng các di tích Bến tiếp nhận vũ khí từ đường Hồ Chí Minh trên biển (Cồn Tàu), khu căn cứ Tỉnh ủy Trà Vinh (Giồng Giếng)…; du khảo sinh thái với những dãy rừng ngập mặn Trường Long Hòa, Long Khánh…; thưởng thức nhiều loại sản vật đã trở thành đặc sản của vùng quê ven biển này như dưa hấu Ba Động, nghêu Nhà Mát, tôm sú Cồn Cù, đuôn Chà là, cá Kèo kho gợt – Chù ụ rang me, nước mắm Rươi…

Ba Động đang là một địa chỉ du lịch ngắn ngày hấp dẫn hướng tới đối tượng đông đảo khách có thu nhập trung bình như công chức, thanh niên, học sinh, công nhân lao động cùng gia đình trên địa bàn Trà Vinh và các tỉnh lân cận. Những ngày lễ, ngày nghỉ cuối tuần, nhất là dịp Tết Nguyên đán… cả bãi biển Ba Động như bức tranh nhiều màu sắc, sôi động, vui tươi với hàng chục ngàn khách du lịch gần xa tìm về tham quan, nghỉ dưỡng.
Bigfish đang offline   Trả lời với trích dẫn
Cũ 02-10-2008, 01:05 AM   #5
Bigfish
Life Member
Points: 22,977, Cấp bậc: 93 Points: 22,977, Cấp bậc: 93 Points: 22,977, Cấp bậc: 93
Activity: 0% Activity: 0% Activity: 0%
 
Ảnh đại diện Bigfish
 
Ngày gia nhập: Feb 2006
Đến từ: Hà Lội
Tuổi: 37
Bài viết: 532
Cảm ơn: 1,374
Được cảm ơn 1,499 lần trong 258 bài viết
Mặc định Re: Sơ lược về biển và biển Việt Nam!

Phần cảng biển Việt Nam


1.Cảng biển là gì
Cảng biển là công trình ở bờ biển để phục vụ các hoạt động hàng hải. Cảng biển là nơi trú ẩn tự nhiên hoặc nhân tạo. Các cảng biển thường được xây dựng ở các vũng, các vịnh, các cửa sông, các vịnh hẹp, đôi khi xây dựng ngay trên các bờ biển thẳng và các đảo nhân tạo. Cảng được củng cố bởi các công trình phòng vệ, đê, đê chắn sóng, đập bảo hộ cảng.
Cảng phải đảm bảo hữu hiệu việc ra vào và sự vận hành của các tàu (cập bến, nhổ neo, bốc xếp vận chuyển, rời bến).
Điều này đòi hỏi cảng phải có các thiết bị và cơ sở vật chất như:
- Các thiết bị báo ra vào (cọc tiêu, hoa tiêu…)
- Kho bãi
- Tháp silo
- Cần cẩu
- …..
Cảng biển được phân loại:
- Cảng chuyên dụng
- Cảng đa năng
- Cảng cá
- Cảng quân sự
- Cảng du lịch
- Cảng dầu khí
- Cảng
- …..
2. Cảng chuyên dụng
Là cảng biển chuyên xếp dỡ một loại hàng nhất định. Có thể là xuất khẩu hoặc nhập khẩu, phụ thuộc vào kinh tế vùng hoặc địa phương.
3. Cảng tổng hợp
Là cảng trong mọi lúc có thể tiếp nhận tàu hàng hay tàu khách với khối lượng và chủng loại hàng hóa khác nhau. Đối với tàu khách thì có đầy đủ dịch vụ.
Cảng tổng hợp được đánh giá là phải thuận lợi về điều kiện hạ tầng cơ sở vật chất cũng như điều kiện tự nhiên.
4. Cảng vụ
Là cơ quan quản lí nhà nước chuyên nghành về hàng hải tại các khu vực giao thông trên biển và vùng nước cảng biển.
Nhiệm vụ của cảng vụ là kiểm tra việc chấp hành các quy định đảm bảo an toàn hàng hải, phòng ngừa ô nhiễm môi trường, vệ sinh và trật tự hàng hải, xử lý các vi phạm pháp luật trong phạm vi chuyên môn và tìm kiếm cứu nạn trong khu vực quản lý…
5. Cảng Vân Đồn
Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Kỷ Tỵ, (Đại Định) năm thứ 10 (1149). Mùa Xuân, tháng Hai, thuyền buôn ba nước Trảo Oa, Lộ Lạc, Xiêm La vào cảng Hải Đông xin cư trú buôn bán, bèn cho lập trang ở nơi hải đảo, gọi là Vân Đồn, để mua bán hàng hoá quý, dâng tiến sản vật địa phương...”. Đại Định là niên hiệu vua Lý Anh Tông; nên có thể khẳng định thương cảng Vân Đồn đã có từ năm 1149, dưới triều vua Lý Anh Tông. Lúc đầu chỉ có thương thuyền một số nước trong vùng Đông Nam á đến buôn bán. Về sau, có cả thuyền buôn của Trung Quốc, Nhật Bản, ấn Độ và các nước Trung Cận Đông...
Dưới các triều đại Lý, Trần, Lê, đất nước ta tuy có lúc hưng thịnh khác nhau, nhưng về cơ bản, chính trị ổn định, kinh tế mở mang, văn hoá phát triển. Bên cạnh những sản vật tự nhiên phong phú, trên thương trường xuất hiện ngày càng nhiều các sản phẩm dệt may, gốm sứ, thủ công mỹ nghệ tạo được sức hấp dẫn. Kỷ nguyên Đại Việt ngay từ thời Lý đã trở thành thị trường được các quốc gia lân bang chú ý đặt quan hệ buôn bán. Thương cảng Vân Đồn đã ra đời trong hoàn cảnh đó.
Nhưng dọc theo tuyến bờ biển dài hơn nghìn ki-lô-mét từ Hải Đông đến Nghệ An, tại sao nhà Lý lại chọn Vân Đồn làm thương cảng ngoại dịch mà không chọn một nơi nào khác? Trả lời câu hỏi này cần xem xét ở nhiều khía cạnh. Trước hết, Vân Đồn là vùng có nhiều đảo đất, đảo đá ngang dọc, chia cắt biển thành nhiều vũng, luồng lạch sâu, kín gió. Thuyền bè neo đậu ở Vân Đồn an toàn, không bị gió bão uy hiếp. Vân Đồn lại là cửa ngõ vào đồng bằng Bắc Bộ, nơi sầm uất sản vật tự nhiên và thủ công mỹ nghệ, thuận tiện cho việc chuyên chở hàng hoá từ đất liền ra. Về mặt an ninh, Vân Đồn ở cách xa đất liền khoảng 40 km, tàu thuyền ngoại quốc chỉ được phép đỗ ở Vân Đồn, không thể vào đất liền để dò xét tình hình quốc gia Đại Việt. Trên tuyến bờ biển Đại Việt thời đó, ngoài Vân Đồn không có một địa điểm nào ưu việt hơn để làm thương cảng ngoại dịch.
Trung tâm thương cảng Vân Đồn nằm trong quần đảo Vân Hải ngày nay, nơi có phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ. Quần đảo Vân Hải ở về phía Đông vịnh Hạ Long, cách Bãi Cháy khoảng 60 ki-lô-mét. Đảo lớn nhất trong quần đảo này là Cái Bàn, dài 30 km, nằm theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, giống hình chiếc thuyền rộng khoang, ở giữa phình ra, hai đầu khép dần lại. Chung quanh Cái Bàn là các đảo Quan Lạn - hình củ lạc, Ngọc Vừng - hình con sao biển, Thừa Cống - hình lưỡi kiếm. Vút lên sừng sững giữa đảo Cái Bàn trên quần đảo Vân Hải là ngọn núi Vân cao 445 mét, đỉnh quanh năm phủ mây trắng. Chính địa hình đảo, núi, vụng, vịnh, luồng lạch xen kẽ, nhấp nhô là nơi ra đời và tồn tại hàng trăm năm cảng cổ Vân Đồn sầm uất một thời.
Cảng Vân Đồn không phải là một bến cảng với những cầu tàu nối tiếp trên một vũng biển hay bờ sông theo cách hiểu thời hiện đại mà là gồm nhiều bến thuyền phân bố trên chiều dài hàng chục ki-lô-mét từ Nam lên Bắc. Kể từ đại dương đi vào, bến đầu tiên của cảng Vân Đồn là Cái Làng nằm sát dưới chân núi Man thuộc đảo Quan Lạn. Đối diện với bến Cái Làng là bến Cống Cái nằm dưới chân núi Vân. Rồi bến Con Quy ven đảo Ngọc Vừng, các bến thuyền kẹp giữa hai đảo Cống Đông, Cống Tây v.v. Hình thành nhiều bến thuyền của thương cảng Vân Đồn là nhằm san bớt lưu lượng tàu thuyền vào các bến một cách hợp lý, không tập trung quá đông vào một bến thuyền, đồng thời quy định cụ thể nơi đỗ của tàu thuyền ngoại quốc và tàu thuyền trong nước, tránh đỗ xen kẽ để dễ bề quản lý. Hàng hoá trao đổi ở cảng Vân Đồn thời đó, gồm: Các sản vật tự nhiên phong phú như hương liệu, ngà voi, sừng tê, ngọc trai, vàng, bạc, đồng, diêm tiêu. Loại hàng hoá này thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số hàng xuất khẩu hàng năm của quốc gia Đại Việt. Loại hàng hoá thứ hai, đứng sau sản vật tự nhiên, là đồ sứ. Thời Lý, đồ sứ men ngọc với kỹ thuật chế tác khá cao, không kém đồ sứ men xanh “Long Tuyền” của Trung Quốc hồi đó. Đồ sứ thời Lý dáng thanh nhã, hoa văn trang trí khéo léo, đẹp mắt, thường là hoa văn đắp nổi cả trong và ngoài mặt thành đồ vật. Theo một nhà sử học Nhật Bản từng nghiên cứu về Vân Đồn, thì đồ sứ triều Lý được nhiều nước ưa chuộng và đã thấy bán ở tận xứ Đông ấn.
Đến thời Trần, đồ sứ phát triển thêm một bước mới, kiểu dáng khoẻ khoắn, men son nâu thanh thoát, giản dị chẳng những làm cho thương nhân nhiều nước ưa chuộng, mà ngay đến cả vua chúa triều Nguyên (Trung Quốc) cũng ưa dùng, muốn trong số những cống vật của nhà Trần dâng cho “Thiên triều” phải có loại bát sứ. Loại hàng hoá thứ ba là lụa là, gấm vóc. Tuy tỷ trọng xuất khẩu không lớn, những đồ dệt của thợ thủ công kỷ nguyên Đại Việt khá đa dạng, kỹ thuật tinh tế, màu sắc rực rỡ đã làm cho thương nhân ngoại quốc không thể không “để mắt” tới.
Thương cảng Vân Đồn ra đời từ thời Lý, tồn tại và phát triển qua thời Trần, thời Lê đến tận thời Tây Sơn. Quanh năm thuyền bè trong nước, thuyền bè ngoại quốc vào ra buôn bán tấp nập. Vân Đồn trở thành mảnh đất hội ngộ náo nhiệt của khách tương phùng từ bốn phương trời đến..
6. Cảng Cửa Ông
Cảng Cửa Ông thuộc tỉnh Quảng Ninh, nằm ở vị trí 21o vĩ độ bắc, 107o22’ kinh độ đông. Cảng chủ yếu phục vụ xuất và xuất khẩu than.
Hiện tại có ba cụm sàng tuyển trung tâm ở tỉnh Quảng Ninh: Cửa ông (Cẩm Phả) , Nam Cầu Trắng (thành phố Hạ Long) và nhà máy sàng Vàng Danh (Uông Bí); ngoài ra hệ thống sàng tại mỏ đang được duy trì để chế biến các loại than phù hợp với yêu cầu của các hộ tiêu thụ.
Cụm sàng tuyển Cửa ông gồm hai nhà máy tuyển than: Nhà máy tuyển than l công suất 2,7 triệu tấn/năm là nhà máy cũ do Pháp xây dựng từ năm 1924 đã được cải tạo và áp dụng một số công nghệ mới để chế biến than phù hợp với yêu cầu của các nhà tiêu thụ. Nhà máy tuyển than 2 công suất 3 triệu tấn/năm sử dụng công nghệ tiên tiến cúa Ốtxtrâylia, được đưa vào vận hành từ năm 199l.
Nhà máy sàng tuyển Nam Cầu Trắng công suất 2 triệu tấn/năm là nhà máy mới, công nghệ của Ốtxtrâylia được đưa vào vận hành từ năm 1996.
Nhà máy sàng Vàng Danh chủ yếu sàng và chế biến than cho mỏ Vàng Danh theo công nghệ của Liên Xô.Các cụm sàng tại mỏ chủ yếu thực hiện nhiệm vụ sàng và chế biến than cho các nhu cầu tiêu thụ trong nước, ngoài ra có thể làm nhiệm vụ sơ chế than nguyên khai để cấp cho các nhà máy tuyển.



Phòng ĐK Trung tâm nhà máy Tuyển Than 2 Cửa Ông Nhà máy Tuyển Than

Các cụm sàng tuyển trung tâm và hệ thống sàng tại mỏ sẽ được quy hoạch và đầu tư phát triển để phù hợp với mức độ tăng sản lượng than khai thác và yêu cầu về chất lượng than của các nhà tiêu thụ
Tập đoàn Than Việt Nam đang quản lý hệ thống các cảng rót than, trong đó có hai cảng chính đảm nhận rót than xuất khẩu, còn các bến khác để rót than tiêu thụ trong nước
Cảng chính Cửa ông: bến chính có chiều dài 300 mét, độ sâu 9,5 mét; có khả năng thông qua 4.000.000 tấn/năm, tiếp nhận tàu có trọng tái đến 65.000 tấn. Cảng sử dụng hệ thống máy rót Hitachi dạng liên tục, công suất rót 800 tấn/giờ, ngoài ra còn sử dụng các thiết bị rót dạng không liên tục công suất 250 tấn/giờ; khả năng rót than cám trong cầu cảng có thể đạt 15.000 tấn/ngày


Tàu trọng tải 65.000 tấn nhận Than tại Cầu cảng Cửa Ông
Cảng chính Hòn Gai: nằm ở trung tâm thành phố Hạ Long, chiều dài bến 50 mét, độ sâu 8,5 mét; có khả năng thông qua l.000.000 tấn/năm, tiếp nhận tàu trọng tải đến 13.000 tấn. Cảng sử dụng hệ thống cầu trục công suất rót đến 150 tấn/giờ và hệ thống băng rót cố định công suất 150 tấn/giờ. Từ cuối năm 2000 cảng này ngừng rót than để làm nhiệm vụ tiếp nhận hàng hóa và dịch vụ du lịch
Các cảng và bến rót than hiện nay đang được quy hoạch và cải tạo; đổng thời Tập đoàn Than Việt Nam sẽ tiếp tục đầu tư xây dựng thêm cảng mới để đảm bảo khối lượng than tiêu thụ qua các cảng khoảng trên 10 triệu tấn sau năm 2000
7. Cảng Cái Lân
Cảng Cái Lân là một cảng nước sâu thuộc tỉnh Quảng Ninh, đang được xây dựng thành cảng lớn nhất khu vực đông bắc.
Cảng Cái Lân được khởi công xây dựng từ tháng 10-1999, bằng nguồn vốn ODA của Chính phủ Nhật Bản. Giai đoạn l của dự án xây dựng mở rộng Cảng Cái Lân gồm 3 bến số 5,6 và 7 với tổng chiều dài cầu tàu 680m, độ sâu trước bến 12m đáp ứng cho tàu có trọng tải đến 40.000 DWT vào làm hàng, trong đó có bến số 7, chuyên dùng cho container. Cùng với việc kiến tạo cầu tàu, kho bãi, Cảng được đầu tư lắp đặt 2 cẩu giàn và 4 cẩu khung ôm bánh lốp, cẩu chân đế... vào dạng tiên tiến trên thế giới hiện nay.
Cảng Cái Lân được Cảng Quảng Ninh quản lý khai thác từ 20-4-2004 theo mô hình thí điểm Nhà nước cho thuê cơ sở hạ tầng khai thác giai đoạn đầu với thời gian 20 năm. Ngay từ khi đi vào khai thác Ban lãnh đạo Cảng luôn chủ động tìm kiếm khách hàng với nhiều bạn hàng là các hãng tàu trong và ngoài nước. Hiện đã có trên 10 hãng tàu là bạn hàng làm hàng ổn định qua cảng như: Rê - na - đet, NYK, Ma - ri - na Hà Nội, E - ra - kê, vosco, Tổng công ty phân bón, Tổng công ty thép, một số công ty thức ăn gia súc... Cùng với đó, CBCNV Cảng Quảng Ninh cũng đã làm chủ các trang thiết bị hiện đại như: Cẩu khung ôm bánh lốp, cẩu tại bãi, cẩu bờ di động, đầu kéo, xe kéo... Những thiết bị này được vận hành thành một dây chuyền nhịp nhàng đã đưa tốc độ giải phóng tàu nhanh hơn. Công tác quản lý khai thác bằng hệ điều hành quản lý bến bãi container (CTMS) phần mềm lập trình tàu vào, ra giao nhận container, kiểm soát bãi, xếp dỡ hàng tại tàu, báo cáo trực tuyến... của Cảng được xếp vào hàng tiên tiến, ngang tầm với các cảng hiện đại của thế giới.


Do thiệt hại từ cơn lốc xoáy và mưa đá (ngày 21-11-2006), hiện nay tại Cảng Cái Lân (Cảng Quảng Ninh) còn duy nhất một cẩu làm hàng container. ảnh: T.C
Có thể nhận thấy rằng tuy mới đưa vào khai thác chưa đầy 3 năm, Cảng Cái Lân bước đầu khẳng định được vị trí, uy tín của mình trong hệ thống cảng biển Việt Nam và thế giới, bắt đầu có bước phát triển. Thế nhưng một sự cố lớn đã xảy đến với Cảng Cái Lân, đó là cơn lốc xoáy kèm mưa đá tháng 11-2006 đã làm 2 cẩu giàn hiện đại nhất Việt Nam chuyên dùng bốc xếp hàng container bị phá hỏng hoàn toàn và 2 cẩu chân đế 16 tấn tại bến số 1 rơi thẳng xuống biển. Thiệt hại năng nề này sẽ kéo giảm sự phát triển của Cảng Cái Lân ít nhất là 2 năm. Tuy nhiên, năm 2006 hàng hoá thông qua Cảng Quảng Ninh đạt 3,420 triệu tấn, trong đó qua Cảng Cái Lân 2,3 triệu tấn (hàng container đạt 132.367 TEU, tăng 20% so với năm 2005). Bước vào nhiệm vụ sản xuất năm 2007, Cảng Quảng Ninh phấn đấu sản lượng hàng hoá thông qua 1,6 triệu tấn, trong đó hàng container 35 ngàn TEU như vậy sản lượng giảm so với cùng kỳ khoảng 60 - 70%. Nhưng để hoàn thành kế hoạch này cũng là một thách thức rất lớn đối với CBCNV Cảng Quảng Ninh, bởi lẽ hiện nay thiết bị cẩu làm hàng ở tuyến tiền phương thiếu trầm trọng. Tại 3 bến 5,6 và 7 chỉ còn duy nhất một cẩu bờ di động 60 tấn để phục vụ làm hàng. Sản lượng hàng hoá thông qua Cảng Quảng Ninh đạt 380 ngàn tấn, trong đó qua Cảng Cái Lân đạt 270 ngàn tấn (hàng container đạt 3.800 TEU).

 Cảng gồm 8 cầu tàu, 2 bến bốc xếp công te nơ và 2 bến nghiêng;
 Kho có diện tích 10.000 m², bãi chứa hàng có diện tích 17.000 m²;
 Thiết bị bốc dỡ: 1 cẩu 20 tấn, 2 cẩu 30 tấn, 2 cẩu 50 tấn di động, 3 cẩu 70 tấn và một số cẩu di động từ 8 đến 10 tấn khác;
 Khả năng cập tàu: Tàu từ 1 đến 5 vạn tấn có thể cặp bến;
 Khả năng xếp dỡ: từ 5 đến 8 triệu tấn/năm.
8. Cảng Hải Phòng
Ông Bùi Viện người làng Trình Phố, huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình, đậu cử nhân năm Mậu Thìn (1868). Là người đã nhận ra vị trí thương cảng của bến chài Ninh Hải, thửa đó thuộc đất Hải Dương. Bùi Viện đã đệ trình lên quan Hải Phòng là Doãn Khuê ý tưởng xây dựng cảng biển vùng sông nước này. Doãn Khuê dâng sớ về triều và được vua Tự Đức khích lệ đồng thời cấp kinh phí để Bùi Viện xây dựng cảng Ninh Hải nay là cảng Hải Phòng.
Tuy cảng được hình thành lâu đời, nhưng đến đầu thế kỷ 20 cảng Hải Phòng mới trở thành cảng biển lớn nhất phía bắc nước ta.
 Cảng gồm 8 cầu tàu bê tông cốt thép, 2 cầu đang xây dựng trong đó có 1 bến nghiêng;
 Kho có diện tích 70.232 m², bãi chứa hàng có diện tích 39.000 m²;
 Thiết bị bốc dỡ: có cẩu cố định và di động 10 - 50 - 70 tấn, có xe nâng, hạ hàng, băng chuyển tải và cẩu xếp dỡ công ten nơ;
 Độ sâu trung bình của mực nước là 7 m;
 Có đường sắt vào các cầu tàu số 8 - 9 - 10 - 11.
 Khả năng cập tàu: Tàu từ 1 đến 2 vạn tấn có thể cặp bến;
 Khả năng xếp dỡ: từ 3,5 đến 4,5 triệu tấn/năm. Đang tăng cường khả năng xếp dỡ hàng hóa và công ten nơ lên 7 triệu tấn/năm.
9. Cảng Diêm Điền
Cảng nằm trên cửa sông Diêm huyện Thái Thụy Thái Bình. Cảng cách thành phố Thái Bình theo đường quốc lộ 10 (218b và 216b) 31km.
Cảng có 100m cầu đảm bảo cho tàu đánh cá và hàng hóa có trọng tải 159 – 200 tấn ra vào. Ngoài ra tại cảng có 1 nhà máy nước đá có công suất 8 tấn/ca. 1 nhà máy chế biến tôm đông lạnh.
Hiện nay Việc quy hoạch mở rộng cảng Diêm Điền sẽ góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế biển của tỉnh Thái Bình.
Nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, UBND tỉnh Thái Bình đã phối hợp với Viện Địa lý (thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) quy hoạch mở rộng cảng Diêm Điền, thuộc địa bàn huyện Thái Thuỵ.
Dự án có tổng vốn đầu tư khoảng hơn 593 tỷ đồng; bao gồm: xây 2 kè hướng dòng chắn cát giảm sóng nhằm chống bồi lấp luồng tàu ra vào cảng có tổng chiều dài 13,2 km và nạo vét luồng tàu ra vào với tổng khối lượng hơn 7,6 triệu m3...
Cửa biển Diêm Điền cùng với quá trình phát triển bãi bồi nên luồng tàu vào cảng Diêm Điền đã và đang bị bồi lấp mạnh bởi lượng phù sa của hai con sông Trà Linh và Diêm Hộ, với tốc độ bồi lấp luồng tàu trung bình từ 0,5 đến 0,8m/năm đã gây cản trở cho tàu thuyền ra và vào cảng.
Việc quy hoạch mở rộng cảng Diêm Điền sẽ góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế biển của tỉnh Thái Bình và đây cũng là một trong năm mũi nhọn tạo hướng đột phá phát triển kinh tế của tỉnh. Sau khi dự án hoàn thành, bảo đảm cho tàu thuyền có trọng tải 1.000 tấn có thể ra vào cảng.
Ngoài ra, việc xây 2 kè hướng dòng chắn cát giảm sóng, chống bồi lấp luồng tàu vào cảng Diêm Điền sẽ tăng quỹ đất để mở rộng diện tích nuôi trồng thuỷ sản và trồng rừng ngập mặn; góp phần giảm thiệt hại do lũ bão lớn từ biển và tiết kiệm chi phí vận tải hàng hoá, phát triển du lịch.
10. Cảng biển Nghệ An
Cảng Nghệ Tĩnh tiền thân là Cảng Bến Thuỷ, đã có lịch sử gần 100 năm hình thành và phát triển. Trong đó có hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành.
Đầu thế kỷ XX Cảng Bến Thuỷ được người Pháp xây dựng 2 bến (bến Lono và bến Mănggô).

Cảng Bến Thuỷ nằm ở hạ lưu Cầu Bến Thuỷ cách Cửa Hội 12 km về phía đông bắc, nằm ở phía đông Thành Phố Vinh. Nhờ có điều kiện giao thông thuận lợi nên từ xa xưa đến vùng Bến Thuỷ, Sông Lam, Núi Quyết đã có vị trí hết sức quan trọng. Vì vậy, Cảng Bến Thuỷ đã đóng vai trò quan trọng đối với quá trình đô thị hoá Vinh dưới thời Pháp thuộc.
Sau khi miền bắc hoàn toàn được giải phóng, ngày 13/10/1955 Bộ GTVT đã ký quyết định số 141 "Tạm lập cơ quan quản lý Cảng Bến Thuỷ". Cảng Bến Thuỷ được hình thành với một cầu tàu bằng gỗ lim dài 150, rộng 10m, 4 kho xây bằng gạch lợp ngói rộng 400m2,
một bãi chứa than, môt âu chứa gỗ, nhà làm việc, nhà ăn và nhà ở tập thể.
Từ đó ngày 13 tháng 10 năm 1955 được coi là ngày truyền thống, ngày mở đầu cho một chặng hơn 50 năm phát triển và trưởng thành.
Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất ngày 05/12/1979 Thủ tướng chính phủ cho phép xây dựng Cảng Cửa Lò (Cảng quốc tế), đây là một sự kiện quan trọng của nhân dân tỉnh Nghệ An, là mốc son trên con đường phát triển của Cảng Nghệ Tĩnh. Sau 5 năm xây dựng (1979-1984) Cảng quốc tế Cửa Lò được hình thành với kết cấu hạ tầng bao gồm 2 bến dài 320 m, diện tích bãi cảng rộng 36000 m2, 3 kho có diện tích 22.000 m2, độ sâu luồng -5.0 m đảm bảo cho tàu <10.000 tấn ra vào thuận lợi.
Năm 1996 Cảng Nghệ Tĩnh được bộ GTVT phê duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật xây dựng và nâng cấp phát triển Cảng Cửa Lò với tổng mức đầu tư 138 tỷ đồng, bao gồm 2 bến (bến 3 và bến 4, Nhà văn phòng, nhà kho, nhà cân, bãi chứa hàng...) đến tháng 7 năm 2007 đã hoàn thành và đưa vào sử dụng (bến 3 Cảng Cửa Lò đã đưa vào khai thác năm 2001).
11. Cảng biển Vũng Áng
Cảng Vũng Áng – Sơn Dương thuộc tỉnh Hà Tĩnh, gồm 2 cụm cảng - thương mại tổng hợp phía tây mũi Ròn và cảng chuyên dụng phía đông mũi Ròn.
Triển vọng phát triển của cảng là điểm giao thông biển của vùng bắc trung bộ, là đầu mối giao thông liên vận quốc tế, đặc biệt là nước bạn Lào và vùng đông bắc Thái Lan.
Cảng Vũng Áng nằm trong vùng biển nước xanh đậm, sóng êm, đặc biệt không có bãi cát vàng. Cảng có ưu điểm bốc xếp hàng vào loại kỷ lục nhanh khoảng 15.000 tấn/ngày.
12. Cảng biển Chân Mây
Nằm ở phía đông nam tỉnh Thừa Thiên Huế, thuộc Vịnh Chân Mây. Vịnh Chân Mây là đường nối giữa Chân Mây tây và Chân Mây đông. Vịnh Chân Mây rất kín gió và có diện tích mặt nước lớn khoảng 20 km2, cửa rộng 7 km, độ sâu trung bình 6-10m có nơi 9-14m. Cảng gồm cảng du lịch, cảng tổng hợp và cảng trung chuyển conteno và tiếp nhận xăng dầu.
Cảng Chân Mây nằm giữa hai đô thị lớn nhất miền Trung (Huế - Đà Nẵng), cách sân bay Quốc tế Phú Bài 40km, sân bay Quốc tế Đà Nẵng 35km; trung điểm của các di sản văn hóa thế giới đã được UNESCO công nhận (Cố đô Huế - Nhã nhạc cung đình Huế - Phố cổ Hội An - Thánh địa Mỹ Sơn); nằm trong khu du lịch trọng điểm của quốc gia (Cảnh Dương - Lăng Cô - Hải Vân - Non Nước, vườn quốc gia Bạch Mã) và các khu công nghiệp Tứ Hạ, Phú Bài, Chân Mây, Đà Nẵng.
Cảng Chân Mây cách cửa khẩu Lao Bão 200km là cửa ngõ ra Biển Đông gần nhất và thuận lợi nhất đối với hành lang kinh tế Đông tây, kết nối miền Trung Việt Nam với Trung Hạ Lào, Đông Bắc Thái Lan, Myanma.
Hiện nay, Cảng Chân Mây có Bến số 1 với chiều dài 420m, độ sâu trước bến 12,5m đủ khả năng đón tàu có trọng tải 30.000 DWT và tu du lịch quốc tế cỡ lớn. Bến chuyên dùng cho tàu có trọng tải 20.000DWT để xếp dỡ các cấu kiện siu trường, siu trọng; thiết bị cẩu bờ di động Gottwald làm hàng đa năng như container, hàng siêu trường, siêu trọng, đặc biệt là xếp dỡ hàng rời như than cám, cát silic, titan, clinker... với năng suất cao, có thể đạt 10.000 T/24 giờ.
Năm 2006, Alcan – nhà khai thác và chế biến quặng nhôm hàng đầu trên thế giới - đã chọn Cảng Chân Mây để gia công, lắp ráp xuất khẩu các cấu kiện siêu trường, siêu trọng.
Để phục vụ nhu cầu phát triển, Cảng Chân Mây đang lập dự án đầu tư xây dựng Bến số 2 và bến số 3, đê chắn sóng, bến chuyên dùng cho tàu khách, khu dịch vụ cho khách du lịch...
13. Cảng Đà Nẵng
Được hình thành cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Năm 1968 Mỹ và chính quyền Sài Gòn xây dựng thêm cảng Tiên Sa. Sau năm 1975 hai cảng sông Hàn và cảng Tiên Sa sát nhập thành cảng Đà Nẵng.
Cảng Đà Nẵng nằm ở vị trí 16o17'33' vĩ độ bắc, 108o20'30' độ kinh đông. Vị trí Trạm hoa tiêu ở 16o10' vĩ độ bắc, 108o11' độ kinh đông. Nằm trong chế độ Bán nhật triều (mực nước chênh lệch bình quân 0,9 mét). Bao gồm 2 khu vực là cảng biển Tiên Sa và cảng sông Hàn. Với tổng diện tích bãi chứa hàng là 125.350m2, tổng diện tích kho chứa hàng là 22.764m2, tổng chiều dài cầu bến là 1.647 mét, tổng diện tích mặt cầu là 27.633m2. Với năng lực bốc dỡ hàng hóa từ 3 - 4 triệu tấn/năm.
Nằm ở trung độ cả nước, vấn đề giao thông đường biển của thành phố khá thuận lợi. Từ đây, có các tuyến đường biển đi đến hầu hết các cảng lớn của Việt Nam và trên thế giới. Khoảng cách từ Cảng Đà Nẵng đến Cảng Hải Phòng là 310 hải lý, đến Cảng Sài Gòn là 520 hải lý, đến Hồng Kông là 550 hải lý, đến Kao Slung (Đài Loan) là 610 hải lý, đến Manila (Philippins) là 720 hải lý, đến Komponchom (Campuchia) là 860 hải lý, đến Singapore là 960 hải lý, đến Đài Bắc (Đài Loan) là 1030 hải lý, đến Satalip (Thái Lan) là 1060 hải lý, đến Malaysia là 1400 hải lý, đến Thượng Hải (Trung Quốc) là 2045 hải lý, đến Yokohama (Nhật Bản) là 2340 hải lý.
Ngoài ra, Cảng Đà Nẵng còn được trang bị nhiều phương tiện và thiết bị hiện đại để có thể đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của khách hàng như: 07 tàu kéo (công suất từ 305HP - 1750HP); 16 cần cẩu di động (từ 5 tấn - 80 tấn); 19 xe nâng hàng (từ 1,5 tấn - 42 tấn), trong đó có 2 xe nâng container có sức nâng 42 tấn; 6 đầu kéo sơmi - rơmóoc; 11 xe xúc gạt và 25 xe tải các loại.
Với vị trí địa lý khá thuận lợi, trang thiết bị hiện đại và một đội ngũ công nhân lành nghề, Cảng Đà Nẵng đảm bảo thực hiện tốt các chức năng như: Bốc xếp, giao nhận, bảo quản hàng hoá; Lai dắt tàu ra vào cảng; Kinh doanh vận tải thuỷ bộ; Đại lý vận tải hàng hoá và kinh doanh kho bãi cảng; Xây dựng và sửa chữa công trình loại vừa và nhỏ; Sửa chữa các phương tiện vận tải thuỷ bộ; Chuyển tải hàng hoá đi một số nước trên thế giới; Dịch vụ hàng hoá và một số dịch vụ khác.

CẢNG TIÊN SA
Là một cảng biển nằm trên vịnh Đà Nẵng
+ Tổng số chiều dài cầu bến: 897 mét. Trong đó có 2 cầu nhô (4 bến) và 1 cầu liền bờ trọng lực.
+ Độ sâu cầu bến: -11 mét (chưa kể thủy triều).
+ Tổng diện tích bãi chứa hàng: 115.000m2.
+ Tổng diện tích kho chứa hàng: 20.290m2.
+ Loại tàu hàng tiếp nhận < 30.000DWT và các tàu chuyên dùng khác như: tàu RORO, tàu container, tàu khách loại lớn và vừa, tàu hàng siêu trường, siêu trọng.
+ Năng lực thông qua từ 3 triệu tấn/năm.

CẢNG SÔNG HÀN
Nằm ở tả ngạn, hạ lưu Sông Hàn.
+ Luồng vào cảng: 2,5 hải lý (từ Tiên Sa đến Sông Hàn).
+ Độ sâu luồng: - 6,2 mét
+ Tổng chiều dài cầu bến = 750 mét (8 cầu liền bờ).
+ Độ sâu cầu bến: từ - 6 mét đến - 7 mét (chưa kể thủy triều).
+ Tổng diện tích bãi chứa hàng (container): 10.350m2.
+ Tổng diện tích kho chứa hàng: 2.474m2 (2 kho).
+ Loại tàu hàng tiếp nhận < 5000DWT và các loại tàu container, tàu
khách loại vừa và nhỏ.
+ Năng lực thông qua 1 triệu tấn/năm.
14. Cảng Dung Quất
Là một cảng lớn ở Quảng Ngãi, có độ sâu lý tưởng, đang được xây dựng cùng với khu công nghiệp mũi nhọn (lọc dầu). Khi hoàn thành, cảng sẽ trở thành cảng dầu khí lớn nhất Việt Nam cùng với thành phố Vạn Tường hiện đại và sẽ trở thành trung tâm công nghiệp của miền trung.
- Phân KCN phía Đông: với diện tích 5.054ha phân bổ thành 4 cụm công nghiệp với chức năng chính là KCN nặng bao gồm các nhà máy lọc hoá dầu, hoá chất, đóng tàu, luyện cán thép, thiết bị nặng, lắp ráp ô tô…
- Phân KCN phía Tây: với diện tích 2.100ha có chức năng chính là KCN nhẹ tập trung các nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông hải sản, dệt may, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghệ thiết bị vận tải, kho bãi trung chuyển quy mô vừa và nhỏ, công nghệ điện tử…
- Cảng Dung Quất: với diện tích 1.158ha gồm 458 ha mặt nước hữu ích, 421 ha mặt bằng và kho bãi, độ sâu -19m có thể tiếp nhận tàu hàng đến 3 vạn tấn, có chức năng là cảng nước sâu đa chức năng gồm nhiều khu cảng như: cảng dầu khí, cảng tổng hợp, cảng chuyên dụng, cảng conterner.
- Thành phố Vạn Tường: có diện tích là 2.400ha với tính chất của một đô thị công nghiệp, thương mại, tài chính, văn hoá, du lịch - dịch vụ hiện đại nhằm phục vụ KCN Dung Quất, gồm nhiều khu chức năng như khu dân cư, khu trung tâm công cộng, khu công viên cây xanh và thể thao, khu du lịch, khu nghiên cứu khoa học, đào tạo và dạy nghề.
- Khu bảo thuế: Trong đề án thành lập Khu kinh tế Dung Quất, khu bảo thuế được quy hoạch nằm liền kề với cảng Dung Quất có diện tích 300ha có cảng xuất nhập hàng hoá riêng. Trong khu bảo thuế có:
.Khu chế xuất
.Khu hàng hoá tạm nhập, tái xuất
.Khu kho dành cho các dự án sản xuất sử dụng nguyên liệu nhập khẩu
.Khu vực kho ngoại quan

Cho đến thời điểm này, hệ thống cơ sở hạ tầng KCN Dung Quất tương đối hoàn chỉnh. Các tuyến giao thông trục chính đến cảng Dung Quất, thành phố Vạn Tường, nối Quốc lộ 1A, các tuyến phụ đến các nhà máy đã được thông suốt. Trong giai đoạn 2004 - 2006, Đường Cao tốc Quảng Ngãi - Đà Nẵng và tuyến Dung Quất - Trà Bồng - Trà My - Tắc Pơ - Đắc Tô (nối với đường Hồ Chí Minh), tuyến đường sắt nối Đường sắt xuyên Việt với Cảng Dung Quất và các Phân KCN sẽ được khởi công xây dựng tạo điều kiện giao thông thông suốt nối Dung Quất với các tỉnh trong khu vực. Ngoài ra các công trình điện, nước, bưu chính viễn thông, trường đào tạo nghề, bệnh viện quốc tế, trạm quan trắc môi trường, các khu du lịch dịch vụ…đã và đang được xây dựng để phục vụ yêu cầu của KCN.
15. Cảng Quy Nhơn
Là một cảng trọng điểm của vùng nam trung bộ, đồng thời phục vụ cho các tỉnh Tây Nguyên và Đông bắc Campuchia, nam Lào.
Cảng có vùng nước rộng và trước cầu cảng có bán đảo Phước Mai che chắn, nên rất kín gió và êm sóng, chế độ thủy triều ở đây là bán nhật triều. Năm 2006, trạm Hải Văn ở cảng Quy Nhơn được công nhận là trạm mực nước biển của hệ thống trạm mực nước biển toàn cầu.
Cảng Quy Nhơn là một trong 10 cảng biển lớn của Việt Nam đang được Chính phủ ưu tiên đầu tư. Cảng có ưu thế là vùng neo đậu kín gió, mức nước sâu, kho bãi rộng, có thể đón tàu trọng tải 30.000 tấn ra vào an toàn, có độ sâu 8,50m, thuỷ triều trung bình 1,56m, luồng rộng 80m, mức bồi lắng 0,4 m/năm. Cách quốc lộ 1A 10 km, cách cảng Đà Nẵng 175 hải lý, cách cảng Nha Trang 90 hải lý, cách cảng Vũng Tàu 280 hải lý, cách cảng Hải Phòng 455 hải lý.
Bộ Giao thông Vận tải đã quyết định đầu tư mở rộng luồng lên 120m, nạo vét luồng đạt độ sâu 11,5m và đưa phao số 0 ra cách cảng 6 hải lý. Từ cảng Quy Nhơn có thể đi thẳng các cảng biển lớn trong khu vực Châu Á.
Năng lực hàng thông qua cảng Quy Nhơn năm 2007 đạt khoảng 3,3 triệu tấn/năm.
Cảng Thị Nại nằm gần kề cảng Quy Nhơn, có tổng độ dài cầu tàu là 268m, mực nước sâu từ 4 - 6m, có thể tiếp nhận tàu có trọng tải từ 3.000 đến 5.000 tấn. Năng lực hàng thông qua cảng năm 2006 đạt gần 500.000 tấn.
Cảng biển Nhơn Hội thuộc Khu kinh tế Nhơn Hội với công suất 12 triệu tấn đang được quy hoạch xây dựng.

16. Những cảng của tỉnh Khánh Hòa
Cảng Nha Trang ở tọa độ 12o12’02’’ bắc và 109o12’08’’ đông.


Cảng biển thuộc vịnh Cam Ranh và được đánh giá là 1 trong 3 cảng biển có vị trí thuận lợi và điều kiện tự nhiên tốt nhất thế giới, nằm ở cực nam của tỉnh Khánh hòa.
Cảng Cam Ranh thuộc Vịnh Cam Ranh có diện tích 185 km2 bề ngang khoảng 8 km, ăn sâu vào đất liền khoảng 13 km, có độ sâu trung bình 18-20m, có 2 cửa vào là cửa Lớn và cửa Nhỏ. Phía bên ngoài có đảo Bình Ba, hai bên có núi đứng ngoài, theo đánh giá chuyên môn thì vịnh có thể chứa đến 1.000 chiến hạm. Chính vì thế trước năm 1975, cảng được làm cảng quân sự của Mỹ và chính quyền Ngụy. Từ quân cảng này, chiến hạm đi ra biển Đông, vào hải phận quốc tế rất gần và khống chế toàn bộ Thái Bình Dương.
Cảng Vân Phong thuộc vịnh Vân Phong nằm giới hạn trong khoảng 109°10’÷109°26’ Đông và 120°29’÷120°48’ Bắc. Vịnh cách Nha Trang về phía Bắc hơn 30 km theo đường chim bay, 60 km đường bộ và 40 hải lý theo đường biển.
• Thuận lợi
Hiện nay trong khu vực này có nhà máy đóng tàu biển Huyndai-Vinashin; Xí Nghiệp tuyển cát xuất khẩu và cảng cát Đầm Môn...; nông nghiệp có nuôi trồng thủy sản (năm 2002 có 900ha nuôi tôm sú, thu 1.500 tấn và có 5.100 lồng nuôi tôm hùm, cá mú được 250 tấn; về du lịch có các khu du lịch Dốc Lết, Đại Lãnh, Hòn Sơn-Suối Hoa Lan, Hòn Ông-Đầm Môn
Vân Phong là vịnh kín gió nên cảng biển được xây dựng ở đây sẽ tốt nhất trong tất cả các cảng biển của Việt Nam.
Theo các chuyên gia hàng hải, Vịnh Vân Phong là điểm cực đông của của bờ biển Việt Nam và là tâm điểm cách đều bờ biển tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) ở phía bắc, quần đảo Philippines ở phía đông, đảo Borneo ở đông nam và bán đảo Mã Lai ở phía Tây Nam
• Bất lợi
Vịnh Vân Phong có 3 hòn chính là Cổ Cò ( Đầm Môn ), Bến Gỏi và Hòn Khói. Trong đó vụng Cổ Cò (Đầm Môn) diện tích mặt nước nhỏ, nhưng khá sâu nằm tại phía đông của vịnh, được che chắn bởi một số đảo nhỏ và lớn nên kín gió và yên tĩnh, có thể phát triển du lịch biển hay các dịch vụ sang hàng và vận tải biển.
Vụng Bến Gỏi, nằm ở phía bắc, nông (chỉ sâu 1,5-2,0 mét), có điều kiện khai thác, phát triển ao đìa nuôi tôm. Vụng Hòn Khói, nằm về phía Tây Nam, chủ yếu làm nghề muối, khai thác vật liệu xây dựng...
“Chỉ có Đầm Môn là kín gió, còn toàn vịnh Vân Phong thì không!” - TS Trương Đình Hiển, Nghiên cứu viên cao cấp (Viện vật lý tại TP.HCM - Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia) Vịnh Vân Phong rất rộng, cửa vịnh rộng tới 8.500 mét, trực tiếp chịu tác động của sóng từ các hướng Đông và Đông Nam đi thẳng vào, hoàn toàn không được che chắn.
Ngoài ra , vịnh Vân Phong không thể xây dựng cảng biển còn có các nguyên nhân khác:
• Vịnh Vân Phong hiện đang như hoàn toàn bị cô lập với bên ngoài, nhất là với các vùng kinh tế
• Cơ sở hạ tầng cơ sở tốn kém.
• Thiếu mặt bằng bến cảng.
• Thiếu tính khả thi, không số liệu khách quan trung thực, không được khảo sát, đo đạc một cách chính xác, khoa học.
• Địa lý không thích hợp, chỉ có Đầm Môn là thật sự kín gió, còn hầu hết trong vịnh Vân Phong là biển khơi
17. Cảng dầu khí Vũng Tầu
Cảng Vũng Tầu được được lập ra cho tầu biển trong nước và nước ngoài ra vào phục vụ việc thăm dò, khai thác dầu khí, xuất nhập khẩu dầu mỏ và hàng hoá khác kể cả hàng hoá quá cảnh qua sông Mê Công.

Vùng biển khơi Bà Rịa-Vũng Tàu trải rộng hơn 100.000 km2, chứa đựng nhiều tài nguyên hải sản phong phú, các loại khoáng sản đa dạng, đặc biệt là dầu khí. Bờ biển của tỉnh chạy dài hơn 150km, có nhiều bãi cát đẹp thu hút phát triển dịch vụ du lịch sinh thái nghỉ dưỡng; hệ thống cảng biển, cảng sông nội địa với nhiều luồng lạch, tuyến giao thông thủy thuận tiện cho vận chuyển hàng hóa và giao thương quốc tế. Hàng năm, nguồn thu (trừ dầu thô) từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ các ngành kinh tế biển chiếm khoảng hơn 60% tổng thu ngân sách của tỉnh.
Hoạt động dầu khí là ngành kinh tế đặc biệt quan trọng của cả nước và của tỉnh. Đến nay, tổng sản lượng khai thác dầu thô đạt hơn 175 triệu tấn và đưa vào bờ gần 30 tỷ mét khối khí. Ngành du lịch ven biển của tỉnh ngày càng phát triển, hiện có 135 doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch với 130 khách sạn và resort, trong đó 94 khách sạn được xếp hạng từ 1-4 sao, 8 resort xếp hạng từ 2-4 sao; có 121 dự án đầu tư vào lĩnh vực du lịch đang triển khai với tổng vốn đăng ký gần 177 ngàn tỷ đồng. Dịch vụ cảng đã có những bước tiến theo xu thế công nghiệp hóa, toàn tỉnh hiện có 47 cảng, cầu cảng chuyên dùng các loại với tổng chiều dài khoảng 29.000m; các cảng biển thuộc nhóm cảng biển số 5 với quy mô tầm cỡ khu vực và quốc tế đang được triển khai xây dựng dọc theo sông Thị Vải – Tân Thành. Ngành thủy sản lâu nay được xác định là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh với gần 5.000 tàu thuyền các loại, trong đó tàu đánh bắt xa bờ chiếm đến 40%, tổng sản lượng khai thác hải sản các loại những năm gần đây đạt hơn 200.000 tấn/năm; hiện có 216 doanh nghiệp hoạt động chế biến thủy sản, những năm gần đây kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt bình quân 200 triệu USD/năm.
18. Cảng biển Phú Mĩ
Cảng biển quốc tế Phú Mỹ có tổng vốn đầu tư gần 4.300 tỉ đồng được khởi công tại thị trấn Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Đây là cảng biển quốc tế quy mô rất lớn, có thể đón tàu trọng tải tới 70.000 DWT, khả năng khai thác bốc dỡ lên tới 9 triệu tấn/năm.

Cảng biển dự kiến sẽ được hoàn thành và đưa vào sử dụng tháng 8.2010.

19. Cảng Cái Mép – Thị Vải
Dự án phát triển cảng quốc tế Cái Mép- Thị Vải thuộc khu vực tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu là một trong những dự án lớn và đặc biệt quan trọng đối với việc phát triển kinh tế- xã hội các tỉnh phía Nam. Tại Quyết định số 659/QĐ-TTg ngày 24/6/2004, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đầu tư dự án bằng nguồn vốn vay đặc biệt của JBIC và giao Bộ GTVT làm chủ đầu tư, Ban QLDA 85 làm đại diện chủ đầu tư. Tổng mức đầu tư dự án lên tới 11.473 tỷ đồng bằng nguồn vốn vay ODA của Nhật Bản và vốn đối ứng của Việt Nam. Toàn bộ dự án được chia làm 6 gói thầu gồm 1 gói dịch vụ tư vấn kỹ thuật, 3 gói thầu xây lắp, 1 gói nạo vét luồng và một gói cung cấp dịch vụ cung cấp thiết bị khai thác cảng.
Theo đó, cảng Cái Mép được thiết kế để tiếp nhận tàu container có trọng tải lên đến 80.000 DWT với công suất thông qua đạt 600.000- 700.000 TEU mỗi năm. Chiều dài bến 600m với tổng diện tích lên tới 48ha. Còn cảng Thị Vải cũng có khả năng tiếp nhận tàu hàng tổng hợp có tải trọng lên đến 75.000 DWT. Công suất thông qua cảng đạt 1,6- 2 triệu tấn/năm. Tổng diện tích của cảng là 27ha.
Hai bến cảng này của dự án sau khi hoàn thành và đưa vào vận hành khai thác sẽ nâng cao lượng hàng thông qua tại tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao thương xuất nhập khẩu hàng hóa trong và ngoài nước. Đặc biệt, dự án có thể góp phần thúc đẩy phát triển các khu kinh tế trọng điểm phía Nam nói riêng và cả nước nói chung, đóng góp một phần quan trọng vào chiến lược phát triển cảng biển trong những năm tới.
20. Cảng Sài Gòn
Năm 1860, Pháp mở cảng Sài Gòn cho tàu buôn các nước vào buôn bán, đến năm 1863 khởi công xây dựng cảng Nhà Rồng và chính thức thông thương quốc tế. Đầu thế kỷ 20, do thực dân Pháp triệt để khai thác thuộc địa, nên các hãng buôn và công xưởng được hình thành nhanh chóng quanh cảng Sài Gòn. Năm 1911 (Bác Hồ) Nguyễn Tất Thành đã làm việc và sang Pháp ra đi tìm đường cứu nước tại đây. Trong đại chiến thế giới lần thứ nhất, người thủy thủ Tôn Đức Thắng cũng từ Sài Gòn ra đi, cùng binh lính phản chiến không nổ súng vào Xevaxtopon và trên chiến hạm Pháp ở Hắc Hải đã kéo cờ búa liềm chào mừng nước Nga Xô Viết trẻ tuổi.
Đúng 16h ngày 13/5/1975 tàu Sông Hương tải trọng 10.000 tấn cập bến Nhà Rồng, chính thức thông thương tuyến đường biển Bắc Nam sau bao năm chia cắt.
Cảng Sài Gòn là một hệ thống các cảng biển tại Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm các cảng: Tân cảng, cảng Bến Nghé, Khánh Hội, Nhà Rồng,Tân Thuận và cảng Cát Lái. Cụm cảng Sài Gòn đóng vai trò là cửa ngõ của miền Nam (bao gồm cả Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long) trong các hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu. Năm 2006, tổng khối lượng hàng hóa thông qua cảng là 35 triệu tấn. Do yêu cấu phát triển thành phố cũng như giải quyết nạn ùn tắc giao thông, các cảng trong nội thành đang được di dời ra ngoại thành (ở Hiệp Phước, Cát Lái (có năng lực 1,5 triệu côngtenơ mỗi năm) và Thị Vải).
21. Cảng Cần Thơ
Với vai trò là đầu mối giao thông thủy nội địa khu vực Đồng bằng sông Cửu Long với giao thông hàng hải các nước trong khu vực
Cảng Cần Thơ đã tách ra khỏi Cảng Sài Gòn để làm ăn độc lập tự hạch toán và đã có thương hiệu tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Trong định hướng phát triển của Cảng Cần Thơ giai đoạn 2010 - 2020, khi đó luồng Định An đã được khai thông, lượng tầu bè, hàng hóa cập Cảng Cần Thơ sẽ tăng lên; hàng hóa sẽ không xuất khẩu trực tiếp tại Cảng Cần Thơ, lúc đó sẽ giảm áp lực cho cụm cảng TP. Hồ Chí Minh. Khi đó Cảng Cần Thơ sẽ là cảng đầu mối và có khoảng 5 đơn vị thuộc là các công ty xếp dỡ: Hoàng Diệu, Trà Nóc, Cái Cui, Hậu Giang và Bình Minh phục vụ trực tiếp cho trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long là thành phố Cần Thơ và các Khu công nghiệp Trà Nóc, Ô Môn, Hưng Phú.
Đồng thời phục vụ chung cho tiểu vùng Tây sông Hậu và vùng giữa sông Tiền và sông Hậu. Dự kiến công suất của toàn cụm cảng vào năm 2020 là khoảng 12 triệu tấn đến 15 triệu tấn/năm (trong đó có dự án nhà máy Nhiệt điện Sóc Trăng sẽ được lắp đặt tại ấp Thanh Đức, xã Long Đức cách Vàm Đại Ngãi khoảng 1,3 km phía hạ lưu sông Hậu ra cửa biển Trần Đề. Tổng diện tích xây dựng khoảng 320 ha với 4 tổ máy 600MW/ tổ, tiêu thụ khoảng 4,5 triệu tấn/ năm; khu công nghiệp Ô Môn 2 có diện tích 20.000 ha và tiếp nhận khoảng 4 triệu tấn/năm cùng hệ thống kho bãi, bến cảng đáp ứng cho tàu 10.000 -20.000 tấn ra vào. Đó là mục tiêu lâu dài của Cảng Cần Thơ khi cửa Định An được đưa vào sử dụng, hiện nay sản lượng hàng hóa thực sự chưa tạo được sự đột phá vì tầu bè vẫn phải đi vào lên các cảng khu vực TP Hồ Chí Minh đã đội giá vận chuyển lên rất nhiều.
22. Cảng Bình Trị
Là cảng biển thuộc địa phận tỉnh Kiên Giang
Khu vực cảng Bình Trị:
a) Ranh giới về phía biển: được giới hạn bởi các đoạn thẳng nối các điểm có toạ độ sau đây:
BT1: 10o12'25" N, 104o34'52" E;
BT2: 10o11'09" N, 104o24'18" E;
BT3: 10o13'24" N, 104o24'18" E;
BT4: 10o13'00" N, 104o35'18" E.
b) Ranh giới về phía đất liền: từ điểm BT1 chạy dọc theo bờ biển phía Tây của xã Bình An đến BT4.
Cảng Bình Trị: được giới hạn bởi đường tròn có bán kính 01 hải lý, với tâm có vị trí tại tọa độ: 10o12'12" N, 104o25'14" E;
Bigfish đang offline   Trả lời với trích dẫn
Cũ 02-10-2008, 01:07 AM   #6
Bigfish
Life Member
Points: 22,977, Cấp bậc: 93 Points: 22,977, Cấp bậc: 93 Points: 22,977, Cấp bậc: 93
Activity: 0% Activity: 0% Activity: 0%
 
Ảnh đại diện Bigfish
 
Ngày gia nhập: Feb 2006
Đến từ: Hà Lội
Tuổi: 37
Bài viết: 532
Cảm ơn: 1,374
Được cảm ơn 1,499 lần trong 258 bài viết
Mặc định Re: Sơ lược về biển và biển Việt Nam!

Phần Đảo và Quần đảo Việt Nam


1. Đảo là gì
Phần đất bị bao bọc xung quanh bởi nước, thường xuyên nhô cao lên, không bị ngập khi mực nước triều cao nhất.Về phần lịch sử hình thành đảo có thể là do một phần lục địa lún xuống gây ra hoặc do hoạt động núi lửa dưới đáy biển tạo thành. Đảo có nhiều hình dạng và kích thước khác nhau, đảo có thể đứng đơn độc hoặc tụ hợp thành quần đảo hay kéo dài thành vòng cung…
Đảo có nhiều loại hình thành, từ nùi hay các rặng san hô, bãi đá ngầm hoặc đảo nhân tạo…
Chế độ pháp lý của đảo phụ thuộc vị trí hoặc lịch sử con người tìm ra…
2. Vùng biển Việt Nam có bao nhiêu hòn đảo
Ven bờ biển Việt Nam có 2.779 hòn đảo lớn nhỏ, hợp thành hệ thống với tổng diện tích khoảng 1.636 km2. Do đặc điểm kiến tạo, các đảo này phân bố không đồng đều, chủ yếu là Vịnh Bắc Bộ và Nam Bộ.
Trong 2.779 hòn đảo ven bờ Việt Nam có 82 đảo có diện tích lớn hơn 1 km2 chiếm 92% tổng diện tích, trong đó 23 đảo có diện tích lớn hơn 10 km2, 3 đảo có diện tích hơn 100 km2 và 1.295 đảo chưa có tên. Tuy phân bố không đồng đều nhưng trên tất cả các vùng biển ven bờ Việt Nam đều có các đảo che chắn với mức độ khác nhau.
Việt Nam có 2 quần đảo lớn xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa.
3. Sự phân bố các đảo ở biển Việt Nam
a. Sự phân bố các đảo ven bờ
- Ven bờ Vịnh Bắc Bộ có số lượng 2.321 đảo với diện tích khoảng 787 km2
- Ven bờ Miền Trung có số lượng 257 đảo với diện tích khoảng 170 km2
- Ven bờ Nam Bộ có số lượng 201 đảo với diện tích 679 km2
b. Các đảo có diện tích lớn hơn
- Phú quốc (Kiên Giang) diện tích 567 km2
- Cái Bầu (Quảng Ninh) diện tích 200 km2
- Cát Bà (Hải Phòng) diện tích 149 km2
- Côn Đảo (Vũng Tàu) diện tích 56,7 km2
- Hòn Lớn (Khánh Hòa) diện tích 45 km2
- Hòn Tre (Khánh Hòa) diện tích 32 km2
- Phú Quý (Bình Thuận) diện tích 32,5 km2
- Vĩnh Thực (Quảng Ninh) diện tích 32 km2
- Cô Tô Thanh Lam (Quảng Ninh) diện tích 23,4 km2
- Cái Chiên (Quảng Ninh) diện tích 10,9 km2
4. Cấu trúc các đảo Việt Nam
Những đảo vùng ven bờ vịnh Bắc Bộ là những núi đá vôi, địa hình thấp, chịu nhiều tác động phong hóa – hóa học, tạo nên một quần thể các đảo có kiến trúc đặc sắc. Các sườn vách dốc đứng, đỉnh sắc nhọn, hoặc các khối đá khổng lồ chồng chất như đang lở và các hốc đá do sóng vỗ.
Sườn thoải thường là sườn khuất gió, ít chịu tác động của các quá trình động lực biển. Phát triển theo bề mặt các lớp đá có thể nằm nghiêng hoặc bề mặt san bằng và các bậc thềm bị mài mòn trên những độ cao khác nhau. 400m, 300m – 30m, 20m. Dưới chân đảo là các cung bờ lõm với các địa hình tích tụ cát thạch anh trắng mịn, là những bãi tắm lý tưởng, như đảo Cô Tô, Ngọc Vừng, Cái Bàu, Phú Quý…
Sườn đó gió là những vách đứng từ 30o – 60o chịu tác động mạnh của quá trình thủy động lực biển và kiến tạo cục bộ nên có cảnh quan rất hùng vĩ. Đặc biệt là các đảo có cấu tạo đá granite ở vùng biển miền Trung có các khe nứt các hốc đá cheo leo trên sườn dốc, và đây chính là nơi ở lý tưởng của loài chim Yến như đảo Hòn Khô, Hòn Lao, Cù Lao Chàm…
Về các đảo lớn, có sự cấu tạo địa chất phân hóa theo từng vùng. Các đảo ven bờ Vịnh Bắc Bộ là đá cacbonat chiếm ưu thế, các đảo từ Thanh Hóa đến Bình Thuận cấu tạo chủ yếu là đá macma, đá xâm nhập, đá trầm tích và phun trào.
Lớp vỏ phong hóa phủ lên các đảo này thường không dầy, thành phần vật chất gắn liền với cấu tạo địa chất, chủ yếu là đất felarit vàng đỏ, là sản phẩm đất dốc tụ, đất felarit nâu vàng trên sản phẩm phong hóa đá vôi, có thành phần cơ giới từ thịt nặng đến sét pha, đất felarit vàng đỏ trên sa diệp thạch có thành phần cơ giới nhẹ, đất felarit nâu đỏ trên đá bazan có thành phần cơ giới nặng, cấu trúc tốt. Đất cát hoặc đất nghèo mùn và nghèo đạm, hàm lượng lân và kali trung bình đến nghèo, phân bố ở các thềm biển trên triều có độ cao 6 – 10m.
Địa hình đáy biển xung quanh đảo không đồng nhất, khá phức tạp bao gồm: Địa hình tích tụ nông thoải, độ sâu từ 2 – 10m nước, từ 10 – 20m lả thảm san hô rất phát triển, độ che phủ 60%. Do đó có hệ sinh thái đa dạng, giàu nguồn lợi hải sản và là bộ lọc nước tự nhiên cao cấp, làm sạch cho môi trường biển.
Do hoàn cảnh địa lý và tự nhiên, cấu tạo nhưng nhìn chung các đảo đều là nơi lý tưởng để phát triển kinh tế sinh thái và du lịch.
5. Đảo san hô
Là đảo được hình thành do sản phẩm phá hủy các thể san hô, đôi khi bởi đá vôi san hô. Đảo san hô có nhiều ở hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.
6. Quần đảo Trường Sa
Quần đảo Trường Sa (tiếng Anh: Spratly Islands; tiếng Trung Quốc: 南沙群岛 - Nam Sa quần đảo; tiếng Filipino và tiếng Tagalog: Kalayaan; tiếng Malay và tiếng Indonesia: Kepulauan Spratly) là nhóm gồm hơn 100 đảo nhỏ và đảo đá ngầm đang trong tình trạng tranh chấp ở Biển Đông.
Nằm trong Biển Đông, quần đảo Trường Sa được bao quanh bởi những vùng đánh cá trù phú và giàu có về tài nguyên dầu mỏ và khí đốt, hiện vùng mở rộng (diện tích) của nó vẫn còn chưa được biết và đang trong vòng tranh cãi. Việt Nam, Đài Loan và Trung Quốc, mỗi nước đều tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ quần đảo; trong khi Brunei, Malaysia và Philippines, mỗi nước tuyên bố chủ quyền nhiều phần. Những nước tham gia tranh chấp này có quân đội đóng trên từng phần của quần đảo Trường Sa và kiểm soát nhiều căn cứ trên các đảo nhỏ và đảo đá ngầm khác nhau. Đài Loan chiếm một trong những đảo lớn nhất, đảo Ba Bình. Tháng 2 năm 1995, Trung Quốc chiếm đảo đá ngầm Vành khăn (Mischief reef) từ tay Philippines, gây nên một cuộc khủng hoảng chính trị lớn ở Đông Nam Á, đặc biệt với Philippines. Đầu năm 1999, những cuộc tranh cãi lại tăng lên khi Philippines tuyên bố rằng Trung Quốc đang xây dựng đồn bốt quân sự trên đảo đá ngầm này. Mặc dầu những tranh cãi sau đó đã giảm bớt một chút, nhưng chúng vẫn là một trong những nguyên nhân có thể gây ra một cuộc chiến lớn ở Đông Nam Á với sự tham gia của Trung Quốc hay một cuộc chiến nhỏ hơn giữa các nước tuyên bố chủ quyền khác.
Địa lý và phát triển kinh tế


Bản đồ quần đảo Trường Sa từ CIA World Factbook 2002
• Tọa độ: 8°38′ Bắc 111°55′ Đông
• Diện tích (đất liền): nhỏ hơn 5 km²
o Ghi chú: gồm khoảng 148 đảo nhỏ, đảo san hô và đảo chìm rải rác trên một diện tích gần 410,000 km² ở giữa biển Đông
• Đường bờ biển: 926 km
• Đơn vị hành chính (là những tuyên bố chủ quyền của các nước về một phần hay toàn bộ nhưng chưa có cột mốc biên giới):
o Việt Nam: huyện Trường Sa, Khánh Hoà.
o Philippines: thuộc tỉnh Palawan.
o Đài Loan: thuộc thành phố Cao Hùng.
o Trung Quốc: thuộc tỉnh Hải Nam.
o Malaysia: thuộc tỉnh Sabah.
• Khí hậu: nhiệt đới
• Địa thế: phẳng
• Độ cao:
o điểm thấp nhất: Biển Đông (0 m)
o điểm cao nhất: vị trí không đặt tên ở đảo Song Tử Tây (4 m)
• Thảm hoạ thiên nhiên: bão; nguy hiểm cho giao thông đường biển bởi vì nhiều đảo đá ngầm và bãi nông.
Quần đảo Trường Sa vốn không có đất trồng trọt và không có dân bản địa. Có khoảng hai mươi đảo, trong đó đảo Ba Bình có diện tích lớn nhất, được coi là nơi cư dân có thể sinh sống bình thường. Các nguồn lợi thiên nhiên gồm: cá, phân chim, tiềm năng dầu mỏ và khí đốt còn chưa được xác định. Ngoài nghề cá, các hoạt động kinh tế khác bị kiềm chế do tranh chấp chủ quyền. Do nằm gần khu vực lòng chảo trầm tích chứa nhiều dầu mỏ và khí đốt, quần đảo Trường Sa có tiềm năng lớn về dầu khí. Hiện địa chất vùng biển này vẫn chưa được khảo sát nhiều và chưa có các số liệu đánh giá đáng tin cậy về tiềm năng dầu khí và khoáng sản khác. Các khảo sát khác nhằm phục vụ kinh tế và thương mại còn ít thực hiện. Quần đảo Trường Sa hiện chưa có cảng hay bến tàu nhưng có bốn sân bay trên các đảo có vị trí chiến lược nằm gần tuyến đường vận chuyển tàu biển chính trên biển Đông.
Sự có mặt của con người


Bản đồ Biển Đông do người Hà Lan vẽ vào năm 1754
Dấu ấn sớm nhất ghi lại được của con người với quần đảo Trường Sa là từ khoảng năm thứ 3 trước Công nguyên. Điều này dựa trên một số phát hiện rằng những người đánh cá, đa số là cư dân từ Vương quốc Chăm Pa cổ của Việt Nam hoặc cư dân cổ xuất phát từ đảo Hải Nam và các vùng đất nay là các quận ở tỉnh Quảng Đông đã đến quần đảo Trường Sa, và các đảo khác ở vùng Biển Đông để đánh cá hàng năm. Vào thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, thỉnh thoảng có một số thuỷ thủ từ một số nước lớn châu Âu (gồm hoặc Richard Spratly hoặc William Spratly) đến quần đảo Trường Sa, từ đó quần đảo có cái tên tiếng Anh là Spratly và tên này được thừa nhận chung, nhưng các nước châu Âu hồi đó còn ít chú ý đến quần đảo này. Đa số các tên tiếng Anh của các đảo, đảo nhỏ và đảo chìm được những ngư dân Việt Nam hay Trung Quốc đặt. Các tàu Đức đến nghiên cứu quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa năm 1883 nhưng cuối cùng đã rút lui sau khi có những phản ứng từ phía nhà Nguyễn của Việt Nam.
Các bản đồ địa lý Việt Nam cổ ghi nhận Bãi Cát Vàng (được dùng để chỉ chung cả Hoàng Sa và Trường Sa) là lãnh thổ Việt Nam từ đầu thế kỷ 17. Trong cuốn "Phủ biên tạp lục" của Lê Quý Đôn, Hoàng Sa và Trường Sa được xác định rõ thuộc về tỉnh Quảng Ngãi. Ông miêu tả đó là nơi người ta có thể khai thác các sản phẩm biển và những đồ vật sót lại từ các vụ đắm tàu. Tài liệu ghi chép Việt Nam vào thế kỷ 17 nhắc đến các hoạt động kinh tế được tài trợ của chính phủ dưới triều nhà Lê từ 200 năm trước đó. Nhà Nguyễn đã tiến hành nhiều cuộc nghiên cứu địa lý về các đảo từ thế kỷ 18.
Các bản đồ về địa lý cổ của Trung Quốc có vẽ quần đảo Trường Sa nhưng không tỏ rõ các đảo là lãnh thổ Trung Quốc. Thập niên 1930, Pháp tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của Chính phủ Bảo hộ đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thay cho Việt Nam, lúc đó đang nước thuộc địa của Pháp. Họ chiếm đóng một số đảo thuộc Trường Sa, gồm cả đảo Ba Bình, và xây các trạm khí tượng trên hai đảo, và sau đó quản lý chúng như một phần lãnh thổ của Đông Dương thuộc Pháp. Sự chiếm đóng này bị chính phủ quốc gia Trung Quốc phản đối bởi vì theo họ thì khi các tàu chiến của Pháp tới chín đảo thì trên biển có một số ngư dân gốc Trung Quốc đánh cá, theo họ thì các ngư dân này đã xé cờ Pháp sau khi tàu của Pháp rời khỏi đảo. Sau đó, Nhật Bản chiếm một số đảo trong Thế chiến thứ hai, và sử dụng các đảo này làm căn cứ tàu ngầm cho các chiến dịch ở Đông Nam Á. Dưới thời đó, những đảo này được gọi là Shinnan Shoto (新南諸島 - "Đảo Mới phía Nam"), cùng với quần đảo Hoàng Sa được đặt dưới sự cai trị của Chính quyền Nhật tại Đài Loan. Sau khi Nhật Bản bị đánh bại, Quốc Dân Đảng tuyên bố chủ quyền toàn bộ quần đảo Trường Sa (gồm cả đảo Ba Bình) và chấp nhận sự đầu hàng của người Nhật. Nhật Bản rút bỏ tất cả các tuyên bố chủ quyền đối với các đảo vào năm 1951 theo Hiệp ước Hoà bình San Francisco. Trong hiệp ước với Cộng hoà Trung Hoa, Nhật một lần nữa rút bỏ chủ quyền khỏi các đảo cùng với Hoàng Sa, Đông Sa (Pratas) và các đảo đã chiếm của Trung Quốc. Tuy nhiên, Quốc Dân Đảng đã rút khỏi Trường Sa và Hoàng Sa khi họ bị các lực lượng của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối lập đánh bại năm 1949.
Khi người Pháp rời Việt Nam, các Hải lực Việt Nam Cộng hòa chính thức thay thế Pháp thực hiện chủ quyền chiếm đóng Trường Sa.
Tranh chấp chủ quyền


Biển Đông với các khu vực và tài nguyên tranh chấp giữa các nước.
Dấu hiệu đầu tiên cho thấy quần đảo Trường Sa không chỉ đơn giản là một mối nguy cho tàu chở hàng đi qua đó là khi vào năm 1968 người ta tìm thấy dầu mỏ trong vùng. Theo ước tính của Bộ Địa chất và Tài nguyên Khoáng sản Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa vùng quần đảo Trường Sa có chứa trữ lượng dầu và khí đốt tự nhiên rất lớn, lên đến 17,7 tỷ tấn (1,60 × 1010 kg), so với 13 tỷ tấn (1,17 × 1010 kg) của Kuwait, và họ xếp nó vào danh sách một trong bốn vùng có trữ lượng dầu khí lớn nhất thế giới. Đương nhiên, tiềm năng trữ lượng dầu khí to lớn này góp phần làm tình hình thêm căng thẳng và thúc đẩy các nước trong vùng tuyên bố có chủ quyền. Ngày 11 tháng 3 năm 1976, cuộc thám hiểm dầu khí lớn đầu tiên của Philippines được tiến hành ngoài khơi Palawan, trong khu vực quần đảo Trường Sa, và các khu khai thác ở đó hiện chiếm năm mươi phần trăm toàn bộ số dầu tiêu thụ tại Philippines.
Các nước tuyên bố chủ quyền không cấp giấy phép khai thác ngoài khơi trong vùng đảo vì sợ gây ra một sự xung đột lập tức. Các công ty nước ngoài cũng không đưa ra bất kỳ một cam kết nào về việc khai thác vùng này cho đến khi tranh cãi về lãnh thổ được giải quyết hay các nước tham gia đạt được thoả thuận chung.
Một động cơ khác để tranh chấp là trữ lượng khai thác cá thương mại của vùng biển quần đảo Trường Sa. Vào năm 1988, Biển Đông chiếm 8% tổng số lượng đánh bắt cá và hải sản của thế giới, một con số chắc chắn còn có thể tăng lên. Trung Quốc đã dự đoán rằng Biển Đông chứa lượng cá và các nguồn dầu mỏ, khí gas tự nhiên có giá trị lên đến một nghìn tỷ đôla. Đã có nhiều cuộc xung đột xảy ra giữa Philippines và các nước khác - đặc biệt là Trung Quốc - về những tàu đánh cá nước ngoài trong Vùng đặc quyền kinh tế của họ và báo chí cũng thường đưa tin về những vụ bắt giữ ngư dân Trung Quốc.
Vùng này cũng là một trong những vùng có mật độ hàng hải đông đúc nhất trên thế giới. Trong thập niên 1980, mỗi ngày có ít nhất 270 lượt tàu đi qua quần đảo Trường Sa, và hiện tại hơn một nửa số tàu chở dầu siêu cấp của thế giới chạy qua vùng biển này hàng năm. Lượng tàu chở dầu chạy qua Biển Đông lớn gấp ba lần lượng tàu chạy qua kênh Suez và gấp năm lần lượng tàu qua Kênh đào Panama; gần 20% lượng dầu thô trên thế giới được chuyên chở ngang qua Biển Đông.
Có nhiều ám chỉ rằng Trung Quốc đã sáp nhập và chiếm các đảo không phải chỉ vì mục tiêu khai thác tài nguyên mà còn để giám sát các hoạt động trên biển Đông. Ví dụ, đá Vành Khăn là một điểm lý tưởng để quan sát các tàu của Hải quân Mỹ chạy qua vùng biển phía tây Philippines. Việc Trung Quốc chiếm đảo này cũng có thể có mục đích đối chọi với Đài Loan hơn là với Philippines bởi vì Trường Sa nằm ngang vùng biển thiết yếu của Đài Loan. Đó cũng có thể chỉ đơn giản là một nỗ lực của Trung Quốc nhằm thông báo sự củng cố quyền bá chủ trong vùng của họ.
Một xô xát diễn ra liên quan tới một tàu dân sự vào ngày 10 tháng 4 năm 1983, khi một du thuyền của Đức bị bắn chìm. Không ai bị coi là chịu trách nhiệm về vụ này.
Ngày 14 tháng 3 năm 1988, hải quân Trung Quốc dùng vũ lực để chiếm các đảo ở Trường Sa. Họ đã bắn chìm ba tàu vận tải của hải quân Việt Nam. Kết quả 74 [1]chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam tử nạn giữa biển khơi, sau đó Trung Quốc chiếm giữ sáu đảo nhỏ trong một vùng từng nằm dưới sự quản lý của Việt Nam.
Vào tháng 4 năm 1988, một tháng sau vụ tấn công chiếm đóng, Trung Quốc đã thông qua một nghị quyết thành lập tỉnh Hải Nam, trong đó bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa.
Để trả lời cho những lo ngại ngày càng tăng bởi các nước có bờ biển ở vùng biển quần đảo Trường Sa về sự xâm phạm của các tàu nước ngoài đối với tài nguyên thiên nhiên của họ, Liên hiệp quốc đã họp và ra Công ước Quốc tế về luật biển (UNCLOS) năm 1982 để xác định các vấn đề về các biên giới biển quốc tế. Về những lo lắng trên, chúng được giải quyết rằng một nước có đường bờ biển có thể tuyên bố 200 dặm hàng hải quyền tài phán từ biên giới đất liền của mình. Tuy nhiên UNCLOS không thể giải quyết vấn đề làm thế nào để giải quyết các tranh chấp chồng lấn và vì thế tương lai của quần đảo vẫn còn mờ mịt.
Năm 1984, Brunei lập ra một vùng đặc quyền đánh cá bao gồm cả đảo ngầm Louisa ở phía nam quần đảo Trường Sa, nhưng không công khai tuyên bố chủ quyền hòn đảo. Sau đó, vào năm 1988, Việt Nam và Trung Quốc một lần nữa lại đụng độ ở biển về quyền sở hữu đảo ngầm Johnson thuộc Trường Sa. Tàu chiến Trung Quốc đánh đắm các tàu chở đội quân đổ bộ Việt Nam. Hai nước bình thường hoá quan hệ vào năm 1991 và Chủ tịch Giang Trạch Dân sau đó đã hai lần viếng thăm Việt Nam, nhưng hai nước vẫn đối đầu về tương lai của Trường Sa.
Năm 1992, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Việt Nam trao các hợp đồng thăm dò dầu khí cho các công ty Mỹ trên vùng chồng lấn ở Trường Sa; và vào tháng 5 năm 1992, Công ty dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc (CNOOC) và Crestone Energy (một công ty Mỹ có trụ sở ở Denver, Colorado) đã ký một hợp đồng hợp tác để cùng thăm dò Wan'an Bei-21 block, một vùng rộng 25.155 km² ở phía tây nam Biển Đông gồm cả các vùng quần đảo Trường Sa. CNOOC cung cấp các dữ liệu về địa chất và các thông tin khác về đáy biển vùng đó trong khi Crestone đồng ý chịu mọi chi phí và tiếp tục tiến hành thăm dò địa chất và khoan trong vùng. Hợp đồng được kéo dài tới năm 1999 sau khi Crestone thất bại trong việc hoàn thành thăm dò. Một phần trong hợp đồng của Crestone bao gồm cả hai block 133 và 134 của Việt Nam nơi Petro Vietnam và ConocoPhillips Vietnam Exploration & Production, một đơn vị của ConocoPhillips, đã đồng ý đánh giá khả năng vào tháng 4 năm 1992. Điều này dẫn tới một sự chạm trán giữa Trung Quốc và Việt Nam, với việc mỗi nước đều yêu cầu rằng bên kia huỷ bỏ hợp đồng của mình. Xung đột cấp độ cao hơn nữa diễn ra đầu năm 1995 khi Philippines tìm thấy một kết cấu quân sự đầu tiên ở đảo ngầm Mischief, 130 dặm biển ngoài khơi Palawan. Việc này thúc đẩy chính phủ Philippines đưa ra một kháng cáo chính thức đối với sự chiếm đóng hòn đảo của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Hải quân Philippines bắt giữ sáu mươi hai ngư dân Trung Quốc ở bãi cát ngầm Half Moon, cách Palawan 80 kilômét. Một tuần sau, sau sự xác nhận của Fidel V. Ramos về việc ra lệnh tăng cường cho các lực lượng quân sự trong vùng, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tuyên bố rằng kết cấu đó là các chòi tạm dành cho ngư dân.
Tiếp theo sự tranh cãi đó, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và các nước thành viên ASEAN, với sự môi giới của ASEAN, đã đạt được một thoả thuận rằng một nước sẽ thông báo tới các nước còn lại về hành động quân sự của mình bên trong vùng lãnh thổ tranh chấp và sẽ không tiến hành xây dựng thêm các công trình. Thoả thuận nhanh chóng bị Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Malaysia xâm phạm. Tuyên bố rằng vì bị hư hại do bão, bảy tàu Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tiến vào vùng đó để sửa "các chòi ngư dân" ở đảo ngầm Panganiban. Malaysia xây dựng một kết cấu trên Investigator Shoal và đổ bộ tại đảo ngầm Rizal, cả hai chỗ này đều nằm bên trong vùng EEZ của Philippines. Để trả đũa Philippines trao phản đối chính thức, yêu cầu dỡ bỏ các kết cấu đó, tăng cường tuần tra hải quân ở Kalayaan và mời các nhà chính trị Mỹ tới giám sát các căn cứ của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa bằng máy bay.
Tới năm 1998, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tiếp tục sự sáp nhập các đảo của mình, đặt các cột mốc lãnh thổ hay phao trên bãi cát Thomas thứ nhất và thứ hai, bãi cát Pennsylvania, bãi cát Half Moon và đảo san hô vòng Sabina cùng đảo Jackson, vùng quần đảo Trường Sa được đưa vào danh sách một trong tám điểm nóng xung đột trên thế giới. Cuối năm 1998, các căn cứ của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã bao quanh các tiền đồn của Philippines. Một sỹ quan Hải quân hoàng gia Anh phân tích các bức ảnh chụp các kết cấu của Trung Quốc và tuyên bố rằng Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa "có lẽ đang chuẩn bị chiến tranh". Quan hệ giữa Manila và Bắc Kinh đã xấu đi tới mức sắp xảy tới xung đột.
Đầu thế kỷ 21, như một phần trong chính sách ngoại giao lúc đầu được gọi là "khái niệm an ninh mới" và "sự lớn mạnh của Trung Quốc hoà bình", Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa giảm bớt chạm trán ở quần đảo Trường Sa. Gần đây Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tiến hành thương lượng với các nước ASEAN nhằm mục đích thực hiện đề xuất tự do thương mại giữa 10 nước tham gia. Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và ASEAN cũng đã thoả thuận đàm phán để đưa ra một bộ luật ứng xử nhằm giảm căng thẳng tại các đảo tranh chấp. Ngày 5 tháng 3 năm 2002, một thoả thuận đã ra đời, công bố mong ước của các nước liên quan giải quyết vấn đề chủ quyền "mà không sử dụng thêm nữa vũ lực". Tháng 11 năm 2002, một tuyên bố về ứng xử của các bên tại Biển Đông được ký kết, làm giảm căng thẳng nhưng không phải là một bộ luật ứng xử mang tính bắt buộc.
Vào năm 2007 Việt Nam và hãng BP của Anh đang chuẩn bị thực hiện dự án trị giá hai tỷ đôla lắp đặt đường ống dẫn khí đốt thiên nhiên từ hai mỏ khí ở khu vực quần đảo Trường Sa thuộc vùng chủ quyền của Việt Nam đồng thời tổ chức bầu cử Quốc hội Việt Nam khóa XII sẽ được tiến hành ngày 20/5 tại quần đảo Trường Sa thì người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lão Tần Cương nói trong buổi họp báo thường kỳ "Việt Nam áp dụng hàng loạt hành động mới trên quần đảo Nam Sa đã đi ngược với nhận thức chung quan trọng về các vấn đề trên biển" mà hai bên đã đạt được. Lão Tần Cương gọi đây là hành động "xâm phạm chủ quyền lãnh thổ cũng như chủ quyền và quyền cai quản của Trung Quốc và Trung Quốc bày tỏ hết sức quan tâm việc này và đã giao thiệp nghiêm khắc với Việt Nam" trong lúc Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đang có chuyến thăm chính thức nước này. Trong khi phía Trung Quốc lại cho các công ty dầu khí, mà điển hình là PetroChina, thăm dò và khai thác dầu khí trong khu vực tranh chấp.
Sau đó vào tháng 6 năm 2007 phát ngôn nhân của BP Plc, ông David Nicholas, nói rằng hãng này thấy rằng "nên ngừng kế hoạch khảo sát địa chấn tại lô 5.2 để cho các nước liên quan có cơ hội giải quyết vấn đề". Khu thăm dò địa chấn, lô 5.2, mà BP dự định tiến hành nằm ở giữa Việt Nam và quần đảo Trường Sa, cách bờ biển Việt Nam khoảng 370 km. Tuy nhiên người phát ngôn của BP lại nói với Reuters rằng công việc tại các lô 5.2 và 5.3 là kế hoạch lâu dài chứ không phải trước mắt.
Trung Quốc ngày càng gây hấn bằng vũ lực trên quần đảo Trường Sa. Vào tháng 4 năm 2007 đã bắt 41 ngư dân Việt Nam và chỉ trả tự do cho họ sau khi những người này nộp phạt. Đến ngày 9 tháng 7 tàu Hải quân Trung Quốc đã nã súng vào một số thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam trong vùng biển gần Trường Sa, cách Thành phố Hồ Chí Minh 350 km làm chìm một thuyền đánh cá của Việt Nam, ít nhất một ngư dân thiệt mạng và một số người khác bị thương. Nguyên nhân chính dẫn tới các mâu thuẫn gữa hai nước là trữ lượng trên 600 triệu thùng của Việt Nam mà Trung Quốc tuyên bố nằm trong vùng biển chủ quyền trong khi giá dầu thô có thể tăng lên đến 100 USD vào cuối năm 2007. Phía Việt Nam cũng đã cho hai tàu chiến cơ động BPS-500 do Nga thiết kế lập tức đến hiện trường nhưng phải đứng từ xa vì hỏa lực quá mạnh từ tàu Trung Quốc. Mặc dù báo chí Việt Nam tránh đưa tin sự kiện trên nhưng sau đó Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Vũ Dũng đã đến Bắc Kinh từ 21/7 tới 23/7 để bàn về các vấn đề biên giới, đặc biệt là trên biển.
Việt Nam tuyên bố chủ quyền
Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với đảo dựa trên vị trí lịch sử và trên nguyên tắc thềm lục địa. Các bản đồ địa lý cổ Việt Nam ghi chép Bãi Cát Vàng để chỉ cả Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam từ đầu thế kỷ 17. Trong cuốn Phủ Biên Tạp Lục của học giả Lê Quý Đôn, Hoàng Sa và Trường Sa được định nghĩa thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Trong Đại Nam Thống Nhất Toàn Đồ, một cuốn bản đồ của Việt Nam được hoàn thành năm 1838, Trường Sa được vẽ thuộc lãnh thổ Việt Nam. Việt Nam đã tiến hành nhiều cuộc khảo sát địa lý và tài nguyên trên quần đảo. Kết quả của các chuyến khảo sát đó đã được ghi chép trong văn học và lịch sử Việt Nam và được xuất bản kể từ thế kỷ 17. Hơn nữa, sau một hiệp ước ký kết với triều đại nhà Nguyễn, Pháp đại diện cho các quyền lợi của Việt Nam đối với các công việc quốc tế và đã thi hành chủ quyền trên quần đảo thay cho Việt Nam.
Ngày 7 tháng 7 năm 1951, Trần Văn Hữu, chủ tịch phái đoàn chính phủ Bảo Đại tới dự Hội nghị San Francisco về Hiệp ước Hoà bình với Nhật Bản tuyên bố rằng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu đã thuộc lãnh thổ Việt Nam. Tuyên bố này không bị bác bỏ hay bảo lưu ý kiến nào của 51 nước có mặt tại hội nghị. Sau khi Pháp rút đi, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã thi hành chủ quyền trên quần đảo.
Hiện nay Việt Nam giữ 21 đảo. Chúng được gộp vào thành một huyện thuộc tỉnh Khánh Hoà.;
Philippines tuyên bố chủ quyền
Trong khi Philippines lần đầu tiên tuyên bố chủ quyền với quần đảo Trường Sa tại Đại hội đồng Liên hiệp quốc năm 1946, thì sự dính líu nghiêm túc của họ chỉ diễn ra vào năm 1956 khi vào ngày 15 tháng 5 công dân Philippines là Tomas Cloma tuyên bố lập ra một nhà nước mới, Kalayaan (Vùng đất tự do). Kalayaan của Cloma trải rộng trên toàn bộ phía đông Biển Đông, gồm cả toàn bộ quần đảo Trường Sa, đảo Ba Bình, Pagasa và đảo Nam Yết, cũng như đảo West York, đảo chìm North Danger, đảo chìm Mariveles và bãi cát ngầm Invertigator. Sau đó Cloma lập ra một thuộc địa vào tháng 7 năm 1956 với thủ đô là Pagasa và Cloma là "Chủ tịch hội đồng tối cao của nhà nước Kalayaan". Hành động này dù không được chính phủ Philippines xác nhận, vẫn bị các nước khác coi là một hành động gây hấn của Philippines và sự phản ứng quốc tế nhanh chóng xảy ra. Đài Loan, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, Việt Nam Cộng Hòa, Pháp, Anh và Hà Lan đưa ra phản kháng chính thức (Hà Lan có liên quan vì họ coi quần đảo Trường Sa là một phần của New Guinea thuộc Hà Lan) và Đài Loan đã gửi lực lượng hải quân tới chiếm các đảo và lập một căn cứ ở đảo Ba Bình, và họ vẫn giữ tới tận ngày nay.
Tomas Cloma và Philippines tiếp tục tuyên bố chủ quyền của họ đối với quần đảo; tháng 10 năm 1956 Cloma tới Thành phố New York để trình bày sự việc trước Liên hiệp quốc và Philippines đã cho đóng quân trên ba đảo từ năm 1968 để bảo vệ các công dân Kalayaan. Đầu năm 1971 Philippines gửi một lưu ý ngoại giao nhân danh Cloma tới Đài Bắc yêu cầu Cộng hoà Trung Hoa rút quân khỏi đảo Ba Bình và ngày 10 tháng 7 cùng năm Ferdianand Marcos thông báo sự sáp nhập nhóm 53 hòn đảo mà họ gọi là Kalayaan, mặc dù cả Cloma và Marcoss không chỉ rõ 53 đảo nào tạo thành Kalayaan, người Philippines bắt đầu tuyên bố chủ quyền ở càng nhiều nơi càng tốt. Tháng 4 năm 1972 Kalayaan chính thức sáp nhập với tỉnh Palawan và được quản lý như một poblacion (khu vực nhỏ), với Tomas Cloma là chủ tịch hội đồng khu vực và tới năm 1992 có 12 cử tri được đăng ký ở Kalayaan. Philippines cũng liên tục cố gắng đổ quân xuống đảo Ba Bình năm 1977 để chiếm đảo nhưng bị quân đội Cộng hoà Trung Quốc đóng trên đảo đẩy lùi. Không có báo cáo về thương vong trong xung đột. Năm 2005, một trạm điện thoại di động được lắp đặt ở đảo Pagasa bởi Smart Communications của Philippines.
Người Philippines đưa ra res nullius và địa lý làm cơ sở cho tuyên bố chủ quyền của mình. Cái cho rằng Kalayaan của Philippines là res nullius bởi vì không có nỗ lực giành chủ quyền nào với các đảo cho tới thập niên 1930, khi người Pháp và sau đó là người Nhật chiếm đảo. Khi Nhật Bản tuyên bố rút lui chủ quyền đối với các đảo trong Hiệp ước Hoà bình San Francisco, đã có một sự từ bỏ quyền đối với các đảo mà không có bất kỳ một bên yêu cầu chủ quyền nào. Vì thế, người Philippines cho rằng quần đảo trở thành res nullius và có thể được sáp nhập. Nhà kinh doanh người Philippines Tomas Cloma đã làm đúng điều đó vào năm 1956 và trong khi Philippines không bao giờ chính thức ủng hộ tuyên bố chủ quyền của Cloma, trong lúc chuyển giao chủ quyền đảo từ Cloma sang Philippines, người Philippines sử dụng đúng quyền tuyên bố chủ quyền như Cloma đã từng làm. Philippines yêu cầu Kalayaan về các căn cứ địa lý có thể tóm tắt bằng cách khẳng định rằng Kalayaan là riêng biệt khỏi các nhóm đảo khác ở Biển Đông bởi vì:
"Có sự công nhận chung về thông lệ hải dương học coi một dãy các đảo có tên thuộc về đảo lớn nhất trong nhóm hay có tên dựa theo sự tập hợp chung. Ghi chú rằng Trường Sa (đảo) chỉ có diện tích 13 hectare so với diện tích 22 hectare của đảo Pagasa. Xét về mặt khoảng cách, đảo Trường Sa cách quần đảo Pagasa 210 m. Điều này nhấn mạnh lý lẽ rằng chúng không phải là phần của cùng một dãy đảo. Quần đảo Hoàng Sa còn ở xa hơn (34.5 km tây bắc đảo Pagasa) rõ ràng là một nhóm đảo khác."
Một lý lẽ thứ hai được Philippines sử dụng liên quan tới tuyên bố chủ quyền địa lý của họ đối với Trường Sa là những đảo thuộc phần tuyên bố chủ quyền của Philippines nằm bên trong đường căn bản quần đảo của họ, họ là nước duy nhất có thể tuyên bố như vậy. Hội nghị Liên hiệp quốc về luật biển (UNCLOS) năm 1982 nói rằng các nước bờ biển có thể tuyên bố 200 dặm biển tài phán từ biên giới đất liền của mình. Có thể điều đó có nghĩa rằng trong khi Philippines là một nước đã ký kết vào UNCLOS, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Việt Nam vẫn chưa tham gia. Philippines cũng viện lý lẽ rằng, theo các điều khoản của Luật biển, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa không thể mở rộng đường căn bản của mình tới Trường Sa bởi vì Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa không phải là nước có biển đảo. Việc lý lẽ này (hay bất kỳ lý lẽ nào khác của người Philippines) có được đưa ra trước toà án để tham khảo và tranh cãi hay không còn chưa chắc chắn, khi Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Việt Nam còn chưa muốn chứng minh các yêu cầu chủ quyền của mình theo pháp lý và bác bỏ các nỗ lực của Philippines nhằm đưa sự tranh cãi ra trước Toà án biển thế giới ở Hamburg.
Trung Quốc tuyên bố chủ quyền
Vào năm 1958, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa cũng tuyên bố chủ quyền của mình dựa trên vị trí lịch sử. Sau này họ cho rằng quần đảo Trường Sau đã từng là một phần thuộc Trung Quốc trong gần 2.000 năm và đưa ra các thư tịch cổ có nhắc tới quần đảo Trường Sa và những mảnh vỡ đồ gốm Trung Quốc và tiền được tìm thấy ở đó để chứng minh. Sử dụng lý lẽ này, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã tuyên bố rằng Philippines đã "lấy" 410.000 km² biên giới biển truyền thống của họ, lợi dụng lúc Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa bị tẩy chay khỏi các công việc quốc tế. Một số nhà phân tích đặt câu hỏi về sự chính xác của các tuyên bố chủ quyền đó, tuy nhiên:
"Sẽ không có tính thuyết phục nếu cho rằng việc tìm thấy các đồng tiền xu thời Hán và các đồ gốm trên quần đảo Hoàng Sa chỉ riêng nó có thể coi là cơ sở chứng minh cho yêu cầu chủ quyền của Trung Quốc vào những năm 1990. Sự hiện diện của những vật đó có thể chỉ đơn giản chứng minh rằng đã có các quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và Đông Nam Á hơn là cho thấy sự hiện diện của người Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa đang tranh cãi."
Không có ghi chép chính thức nào về việc người Trung Quốc đã tới đảo và các liên hệ tạm thời của ngư dân không đủ để làm bằng chứng cho bất kỳ một yêu cầu chủ quyền nào dựa trên vị trí lịch sử. Tuy nhiên họ trưng ra nhiều ghi chép chính thức và bản đồ từ thời nhà Hán, nhà Nguyên, nhà Thanh và Cộng hoà Trung Hoa có tính đến quần đảo Trường Sa trong lãnh thổ Trung Quốc. (Xem bản tiếng Trung của trang này để có thêm chi tiết và ngày tháng của tài liệu.)
Niên biểu thế kỷ 20
• 1927 - Tàu SS De Lanessan của Pháp tiến hành một cuộc khảo sát khoa học trên quần đảo Trường Sa.
• 1930 - Pháp tiến hành cuộc khảo sát thứ hai bằng chiếc La Malicieuse, treo cờ Pháp trên một đảo tên là Ile de la Tempête (đảo Phong Ba). Ngư dân Trung Quốc có mặt trên đảo nhưng người Pháp cũng không trục xuất họ.
• 1932 - Trung Hoa Dân Quốc gửi tới chính phủ Pháp một bản ghi nhớ tranh cãi về chủ quyền của họ đối với Trường Sa, dựa trên bản dịch hiệp ước năm 1887 kết thúc Chiến tranh Trung-Pháp.
• 1933 - Ba tàu Pháp chiếm quyền kiểm soát chín đảo lớn nhất và tuyên bố chủ quyền của Pháp đối với quần đảo. Pháp quản lý vùng Cochinchine. Đế quốc Nhật tranh giành chủ quyền với Pháp về quần đảo, đưa ra bằng chứng về việc khai mỏ phosphate của các công dân Nhật.
• 1939 - Nhật tuyên bố ý định đặt quần đảo dưới quyền tài phán của họ. Pháp và Anh phản đối và tái xác nhận sự tuyên bố chủ quyền của Pháp.
• 1941 - Nhật dùng vũ lực chiếm quần đảo và tiếp tục kiểm soát nó tới cuối Thế chiến thứ II, cai quản vùng này như một phần của Đài Loan. Một căn cứ tàu ngầm được thiết lập ở đảo Ba Bình.
• 1945 - Sau khi Nhật Bản đầu hàng cuối Thế chiến thứ II, Pháp và Cộng hoà Trung Quốc tái khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa. Trung Quốc gửi quân tới đảo và đổ bộ xuống phá bỏ các mốc chủ quyền.
• 1946 - Pháp gửi tàu chiến tới quần đảo nhiều lần nhưng không tìm cách tấn công các lực lượng Trung Quốc.
• 1947 - Pháp yêu cầu Trung Quốc rút khỏi quần đảo.
• 1948 - Pháp ngừng các chuyến tuần tra trên biển gần quần đảo và Trung Quốc rút đa số lính của họ.
• 1951 - Sau Hội nghị San Francisco năm 1951 về Hiệp ước Hoà bình với Nhật Bản, các phái đoàn từ Việt Nam, - ở thời điểm đó, vẫn thuộc sự kiểm soát của Pháp – tuyên bố chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
• 1956 - Tomas Cloma, giám đốc Học viện hải dương Philippines tuyên bố chủ quyền trên đa phần quần đảo Trường Sa, gọi lãnh thổ của ông là "Kalaya'an" ("Vùng đất tự do"). Trung Hoa Dân Quốc, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, Việt Nam Cộng Hòa, Pháp, Anh và Hà Lan tất cả đều đưa ra phản đối. Cộng hoà Trung Hoa và Việt Nam Cộng Hòa đưa các đơn vị hải quân tới quần đảo, mặc dù Việt Nam không có các đơn vị đồn trú thường xuyên ở đó. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ủng hộ yêu cầu của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, tuyên bố rằng "theo các dữ liệu của Việt Nam, các đảo Tây Sa và Nam Sa (gọi theo Trung Quốc chỉ Hoàng Sa và Trường Sa) về mặt lịch sử là một phần của lãnh thổ Trung Quốc". Cuối năm đó, Việt Nam Cộng Hòa tuyên bố sự sáp nhập quần đảo Trường Sa thành một phần tỉnh Phước Tuy.
• 1958 - Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đưa ra tuyên bố xác định lãnh thổ biển của họ gồm cả quần đảo Trường Sa. Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Quốc vụ Viện Trung Quốc công hàm ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ Trung Quốc quyết định về hải phận[5].
• 1961-1963 - Việt Nam Cộng hòa xây dựng các cột mốc lãnh thổ trên nhiều đảo thuộc quần đảo.
• 1968 - Philippines gửi quân tới ba đảo để bảo vệ các công dân Kalayaan và tuyên bố sáp nhập nhóm đảo Kalayaan.
• 1971 - Malaysia đưa ra tuyên bố chủ quyền đối với một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa.
• 1972 - Philippines sáp nhập các đảo Kalayaan vào tỉnh Palawan của họ.
• 1975 - Việt Nam, mới thống nhất, đưa ra tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ quần đảo Trường Sa.
• 1978 - Một nghị định của tổng thống Philippines phác thảo tuyên bố chủ quyền trên quần đảo.
• 1979 - Malaysia xuất bản một bản đồ về thềm lục địa tuyên bố của mình, gồm cả mười hai đảo thuộc nhóm Trường Sa. Việt Nam xuất bản sách trắng phác thảo các yêu cầu chủ quyền của mình trên quần đảo và tranh cãi về yêu cầu chủ quyền của các nước khác.
• 1982 - Việt Nam xuất bản một cuốn sách trắng khác, chiếm nhiều đảo và xây đựng các cơ sở quân sự. Philippines cũng chiếm thêm nhiều đảo và xây dựng một đường băng.
• 1983 - Malaysia chiếm một đảo thuộc quần đảo Trường Sa.
• 1984 - Brunei thiết lập một vùng đánh cá đặc quyền gồm cả đảo chìm Louisa ở phía Nam quần đảo Trường Sa, nhưng không công khai tuyên bố chủ quyền vùng đó.
• 1987 - Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tiến hành các chuyến tuần tra hải quân ở quần đảo Trường Sa và thiết lập một căn cứ thường xuyên.
• 1988 - Tàu của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Việt Nam đụng độ ở đảo chìm Johnson. Các lực lượng Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa chiếm và giành quyền kiểm soát vùng đó.
Tổ chức hành chính của Trường Sa
Philippines sáp nhập các đảo Kalayaan vào tỉnh Palawan của họ. Còn Trung Quốc thì đặt quần đảo Trường Sa cùng với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trung Sa thành một cấp gọi là biện sự xứ (tương đương cấp huyện) với tên gọi chính thức là Tây Nam Trung Sa quần đảo biện sự xứ (西南中沙群岛办事处) thuộc tỉnh Hải Nam. Có tin đồn rằng tháng 11/2007, Trung Quốc đã thành lập thị xã Tam Sa quản lý 3 quần đảo này trên Biển Đông.
Tổ chức hành chính của Việt Nam
Huyện Trường Sa được thành lập theo Quyết định số 193-HĐBT ngày 9/12/1982 của Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam, bao gồm toàn bộ khu vực quần đảo Trường Sa và thuộc tỉnh Đồng Nai. Trước đó quần đảo Trường Sa thuộc huyện Long Đất, tỉnh Đồng Nai. Đến ngày 28/12/1982, huyện Trường Sa được chuyển sang tỉnh Phú Khánh. Sau khi chia tách tỉnh Phú Khánh (30/6/1989), huyện Trường Sa trực thuộc tỉnh Khánh Hòa.
Theo Nghị định số 65/2007/NĐ-CP của Chính phủ được ban hành vào tháng 4 năm 2007, huyện Trường Sa (thuộc tỉnh Khánh Hòa) có 3 đơn vị hành chính trực thuộc gồm thị trấn Trường Sa và các xã Song Tử Tây, Sinh Tồn.
Thị trấn Trường Sa được thành lập trên cơ sở đảo Trường Sa lớn và các đảo, đá, bãi phụ cận. Xã Song Tử Tây được thành lập trên cơ sở đảo Song Tử Tây và các đảo, đá, bãi phụ cận. Xã Sinh Tồn được thành lập trên cơ sở đảo Sinh Tồn và các đảo, đá, bãi phụ cận.
7. Quần đảo Hoàng Sa
Quần đảo Hoàng Sa 黄沙 có nghĩa là "cát vàng" (tiếng Anh: Paracel Islands; Trung Quốc gọi là 西沙群島 - Hsisha Chundao hay Xisha Qundao - Quần đảo Tây Sa) là một nhóm khoảng 30 đảo, bãi san hô và mỏm đá ngầm nhỏ ở Biển Đông (xem Đảo Biển Đông). Quần đảo nằm cách miền trung Việt Nam khoảng một phần ba khoảng cách đến những đảo phía bắc của Philippines; cách Cù lao Ré (đảo Lý Sơn) của Việt Nam khoảng 200 km và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc khoảng 230 km.
Ngày xưa quần đảo này đã mang tên là Bãi Cát Vàng hay Cồn Vàng. Vì có vô số hòn đảo, hòn đá, cồn đụn, bãi cạn lúc nổi lúc chìm theo với mực nước thủy triền lên xuống nên số lượng đảo tùy theo cách đếm mà kể là nhiều hay ít. Giáo sư Sơn Hồng Đức cho số lượng là 120 đảo; sách cổ Việt Nam trong những thế kỷ trước đây cho biết có 130 đảo.
Địa lý

Quần đảo Hoàng Sa
• Tọa độ địa lý: từ 15°45′ đến 17°15′ Bắc, từ 111°00′ đến 113°00′ Đông
• Chu vi bờ biển: khoảng 518 km
• Khí hậu: nhiệt đới
• Độ cao: chỗ thấp nhất 0 m (biển Đông), chỗ cao nhất 14 m (địa điểm chưa có tên ở đảo Rocky)
• Tài nguyên: thiếu
• Nguy hiểm tự nhiên: bão
• Tên các đảo (huyện đảo Hoàng Sa): chia thành hai nhóm An Vĩnh và Trăng Khuyết.
Khoảng cách đến đất liền
Về khoảng cách đất liền, quần đảo Hoàng-Sa nằm gần ViệtNam nhất.
• Khoảng cách từ đảo Tri Tôn (15o47'N, 111o12'E) tới Lý Sơn hay Cù lao Ré (15o22'N, 109o07'E) là 2 độ 03 phút trên thước đo khoảng cách vĩ độ, tức chỉ có 123 hải lý.
• Nếu lại lấy toạ độ (Lý Sơn 15o23.1'N, 109o09.0'E) từ trong bản tuyên-cáo đường cơ-sở nội-hải của chính-quyền CHXHCN Việt-Nam (Declaration on Baseline of Territorial waters, 12 Nov. 1982) thì khoảng cách đến bờ Cù-lao Ré thu ngắn lại dưới 121 hải-lý.
• Từ đảo Tri-Tôn này đến Mũi Ba Làng An (Cap Batangan 15o14'N, 108o56'E) tức đất liền lục-địa Việt-Nam, khoảng cách đo được 135 hải-lý.
• Trong khi đó, khoảng cách đảo gần nhất tới bờ đảo Hải Nam xa tới 140 hải lý (đảo Hoàng Sa - 16o32N, 111o36 E và Ling-sui Pt hay Leong-soi Pt - 18o22 N, 110o03 E).
• Khoảng cách từ Hoàng Sa tới đất liền lục địa Trung Hoa còn xa hơn rất nhiều, tối thiểu là 235 hải lý.
• Nếu người Trung Hoa dùng "bãi đá ngầm" (North Reef) làm chuẩn để đo đến bờ "đảo" Hải Nam tại Ling-sui Pt, thì khoảng cách là : 112 hải lý. Song điều này không thể là một lý lẽ tranh cãi trên trường quốc tế vì đá ngầm không có giá trị như đảo trong việc chuẩn định ranh giới.
Bảng tọa độ địa lý
Toạ độ địa lý các đảo và đá ngầm
Tên ghi trên hải đồ
(tiếng Anh) Tên tiếng Việt Tên tiếng Hán Toạ độ địa lý
(B=Bắc; Đ= Đông)
ADDINGTION PATCH Bãi Addingtion - 15°36′ B – 114°25' Đ
AMPHITRITE GROUP Nhóm An Vĩnh
Tuyên Đức Xuande Qundao
(Tuyên Đức quần đảo) 16°53' B – 112°17' Đ
ANTELOPE REEF Bãi ngầm Sơn Dương Lingyang Jiao 16°28' B – 111°34' Đ
BALFOUR SHOAL Bãi Balfour - 15°27' B – 114°00' Đ
BANGKOK SHOAL Bãi Vọng Các - 16°00' B – 114°05' Đ
BASSSETT SHOAL Bãi Basett - 15°27' B – 114°10 Đ
BOMBAY REEF Đá Bông Bay Langua Jiao 16°02' B – 112°32' Đ
BREMEN BANK Bãi ngầm Bremen Binmei Tan 16°18' B – 112°28' Đ
CARPENTER SHOAL Bãi Carpenter - 16°03' B – 114°10' Đ
CATHAY SHOAL Bãi Cathay - 15°55' B – 113°58' Đ
CAWSTON SHOAL Bãi Cawston - 15°31' B – 113°46' Đ
CRESCENT GROUP Nhóm Trăng Khuyết
(Lưỡi Liềm) Yongle Qundao
(Vĩnh Lạc Quần đảo) 16°31' B – 111°38' Đ
DISCOVERY REEF Đá Lồi Huaguang Jiao 16°14' B – 111°41' Đ
DRUMMOND ISLAND Đảo Duy Mộng Jinqing Dao
(Tấn Khanh đảo) 16°28' B – 111°44' Đ
DUNCAN ISLANDS Đảo Quang Hòa Đông
Đảo Quang Hòa Tây Chenhang Dao
(Sâm/Thâm Hàng đảo) 16°27' N – 111°42' Đ
EGERIA BANK Bãi Egeria - 16°01' B – 114°56' Đ
HAND SHOAL Bãi Hand - 15°59' B – 114°38' Đ
HARDY PATCHES Bãi Hardy - 16°05' B – 114°46' Đ
HERALD BANK Bãi Herald Songtao Tan 15°44' B – 112°14' Đ
HOWARRD SHOAL Bãi Howard - 15°51' B – 114°47' Đ
LEARMONTH SHOAL Bãi Learmonth - 15°42' B – 114°40' Đ
LINCOLN ISLAND Đảo Linh Côn Dong Dao
(Đông đảo) 16°40' B – 112°44' Đ
MACCLESFIELD BANK Bãi Macclesfield Zhongsha Qundao
(Trung Sa Quần đảo) 15°50' B – 114°20' Đ
MIDDLE ISLAND Đảo Trung Zhong Dao
(Trung đảo) 16°57' B – 112°19' Đ
MONEY ISLAND Đảo Quang Ánh Jinyin Dao
(Kim Ngân đảo) 16°50' B – 112°20' Đ
NORTH ISLAND Đảo Bắc Bei Dao
(Bắc đảo) 16°58' B – 112°18' Đ
NORTH REEF Cồn Bắc Bei Jiao
(Bắc tiêu) 17°06' B - 111°30' Đ
OBSERVATION BANK Cồn Quan sát Yin Yu 16°35' B – 111°42' Đ
PARACEL ISLANS Quần đảo Hoàng Sa Xisha Qundao
(Tây Sa Quần đảo) 16°30' B – 112°15' Đ
PASSU KEAH Đảo Bạch Quỷ Panshi Yu
(Bàn Thạch dữ) 16°03' B – 111°47' Đ
PATTLE ISLAND Đảo Hoàng Sa Shanhu Dao
(San Hồ đảo) 16°32' B – 111°36' Đ
PYRAMID ROCK Hòn Tháp Gaojianshi 16°34' B – 112°38' Đ
ROBERT ISLAND Đảo Hữu Nhật Ganquan Dao
(Cam Tuyền đảo) 16°31' B – 111°34' Đ
ROCKY ISLAND Đảo Hòn Đá Shi Dao
(Thạch đảo) 16°51' B – 112°21' Đ
SCARBOROUGH SHOAL Bãi Scarborough Huangyan Dao 15°08' B – 117°46' Đ
SIAMESE SHOAL Bãi Xiêm La Ximen Ansha 15°58' B – 114°04' Đ
SMITH SHOAL Bãi Smith Meixi Ansha 15°27' B – 114°12' Đ
SOUTH ISLAND Đảo Nam Nan Dao
(Nam đảo) 16°57' B – 112°19' Đ
SOUTH SAND Đá Nam Bei Shazhou 16°56' B – 112°20' Đ
STEWART BANK Bãi Stewart - 17°20' B - 118°50' Đ
TREE ISLAND Đảo Cây Zhaoshu Dao
(Triệu Thuật đảo) 16°59' B – 112°16' Đ
TRITON ISLAND Đảo Tri Tôn Zhongjian Dao
(Trung Kiến đảo) 15°47' B – 111°12' Đ
VULADDORE REEF Đá Chim Yến Yuzhuo Jiao 16°20' B -112°01' Đ
WEST SAND Đảo Tây Xi Shazhou
Tây Sa Châu 16°58' B – 112°12' Đ
WOODY ISLAND Đảo Phú Lâm Yongxing Dao
(Vĩnh Hưng đảo) 16°50' B – 112°20' Đ
Nhóm An Vĩnh
Còn gọi là Nhóm Đông - Bắc quần đảo Hoàng Sa (Amphitrite Group; Việt Nam Cộng hòa gọi là "nhóm An Vĩnh"; Trung Quốc gọi là 宣德群島 - Quần đảo Tuyên Đức.
Nhóm đảo An Vĩnh bao gồm các đảo tương đối lớn và cao nhất trong các đảo của Hoàng Sa, và cũng là các đảo san hô lớn nhất Biển Đông như: đảo Cây (Tree Island / Zhaoshu Dao, 赵述岛/島, Triệu Thuật đảo), còn gọi là đảo Cù Mộc, đảo Bắc (North Island /Bei Dao, 北岛, Bắc đảo), đảo Giữa/Trung (Middle Island / Zhong Dao, 中岛, Trung đảo), đảo Nam (South Island /Nan Dao, 南岛, Nam đảo), đảo Phú Lâm (Woody Island / Yongxing Dao, 永兴岛, Vĩnh Hưng đảo), đảo Linh Côn (Lincoln Island / Dong Dao, 东岛, Đông đảo), Cồn Cát Tây (West Sand), Cồn Cát Nam (South Sand), Đá/Hòn Tháp (Rocky Island / Shi Dao, 石岛, Thạch đảo).
Tên gọi An Vĩnh lấy theo tên một xã thuộc tỉnh Quảng Ngãi thời trước. Theo sách Đại Nam Thực lục Tiền biên quyển 10 ghi chép về xã này như sau: "Ngoài biển xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi có hơn 100 cồn cát... chiều dài kéo dài không biết tới mấy ngàn dặm, tục gọi là Vạn lý Hoàng Sa châu... Hồi quốc sơ đầu triều Nguyễn đặt đội Hoàng Sa gồm 70 người lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hàng năm cứ đến tháng ba cưỡi thuyền ra đảo, ba đêm thì tới nơi..."
Nhóm đảo còn được gọi là Amphitrite, theo tên của một trong những chiếc tàu châu Âu đầu tiên vào Biển Đông, gặp nguy khốn ở Hoàng Sa. Chiếc tàu Pháp này đã sang buôn bán với Trung Hoa vào cuối thế kỷ XVII. [1]
Xem chi tiết về các đảo trong các bài: Đảo Phú Lâm, Đảo Cây, Đảo Linh Côn.
Nhóm Trăng Khuyết
Còn gọi là Nhóm Tây (Crescent Group; còn gọi là nhóm Trăng Khuyết hay nhóm Nguyệt Thiềm vì có hình cánh cung hay lưỡi liềm; Trung Quốc gọi là 永樂群島 - Quần đảo Vĩnh Lạc).
Nhóm này bao gồm đảo Hoàng Sa (Pattle Island / Shanhu Dao, 珊瑚岛, San Hồ đảo), (đảo) Đá Bắc (North Reef, Beijiao, 北礁, Bắc tiêu), đảo Hữu Nhật (Robert Island / Ganquan Dao, 甘泉岛, Cam Tuyền đảo), (đảo) Đá Lồi (Discovery Reef), đảo/đá Bạch Quy (Passu Keah/Island / Panshi Yu, 盘石屿, Bàn Thạch dữ), đảo Tri Tôn (Triton Island / Zhongjian Dao, 中建岛, Trung Kiến đảo), đảo Quang Ảnh (Money Island / Jinyin Dao, 金银岛, Kim Ngân đảo), đảo Quang Hòa (Duncan Island / Chenhang Dao, 琛航岛, Sâm/Thâm Hàng đảo), đảo Duy Mộng (Drummond Island / Jinqing Dao, 晋卿岛, Tấn Khanh đảo), Cồn/Đá Bông Bay (Bombay Reef), Đảo/Đá Chim Yến (Vuladdore Reef).
Xem chi tiết về các đảo trong các bài: Đảo Hoàng Sa, đảo Đá Bắc, đảo Đá Lồi, đảo Hữu Nhật, đảo Bạch Quy, đảo Tri Tôn, đảo Quang Ảnh, đảo Quang Hòa , đảo Duy Mộng, Cồn Bông Bay, Đảo Chim Yến.
Các bãi ngầm chính
Trong vùng gần Nhóm An Vĩnh
Trong vùng Hoàng Sa có những bãi ngầm chính là:
• Bãi ngầm Jehangire Bank
• Bãi ngầm Bremen Bank
• Bãi đá ngầm Bombay Reef
Trong vùng gần Nhóm Trăng Khuyết
Có ba bãi đá ngầm:
• Bãi ngầm Antelope Reef nằm phía Nam đảo Hữu Nhật và phía Đông đảo Quang Ảnh hoàn toàn là san hô chưa nổi lên mặt nước.
• Bãi ngầm Vuladdore nằm về phía Đông Nam của nhóm đảo Lưỡi Liềm, cách xa khoảng 20 hải lý.
• Bãi ngầm Khám phá, Discovery (tên tiếng Anh), Découverte(tên tiếng Pháp): Bãi ngầm Khám phá này là bãi ngầm lớn nhất trong cả quần đảo. Một vòng san hô bao quanh chiều dài tới 15 hải lý, bề ngang chừng 5 hải lý.
Trong một chuyến viếng thăm quần đảo Hoàng Sa vào đầu thập niên 1970, giáo sư Địa lý Sơn Hồng Đức này đã ghi lại Bãi ngầm Khám phá như sau:
"Đứng trên đài chỉ huy của tàu nhìn xuống mặt đầm bên trong ám tiêu san hô là một thế giới yên lặng, mặc dù bên ngoài sóng bổ từng cơn lên ám tiêu viền. Nước bạc đua nhau, theo một lạch nhỏ để vào bên trong. Vào những ngày biển yên, người ta có thể trông suốt đến đáy lòng chảo cát vàng ở đáy. Nhiều loài thủy tộc sống lâu năm nên to lớn dị thường. Có những con cá đuối bằng hai chiếc chiếu, ốc tai tượng to bằng cái bàn nặng 700 ký..."
Khí tượng
Hoàng-Sa nhờ nằm giữa Biển Đông nên khí hậu điều hòa, không lạnh quá về mùa Đông, không nóng quá về mùa hè nếu so với những vùng đất cùng vĩ độ trong lục địa.
Khí hậu ở Hoàng Sa
Tháng Giêng Hai Ba Tư Năm Sáu Bảy Tám Chín Mười Mười một Mười hai
Nhiệt độ TB 23,5 24 26,2 27,7 29,2 29,1 28,9 28,7 28,1 27,1 25,8 24,4
Độ ẩm TB 82,1 83,7 83,8 83,5 83,9 84,8 84,2 83,7 84,4 83,8 83,7 81,5
Lượng mưa TB 21 17 21 60 73 128 93 141 197 228 143 47
Số ngày mưa TB 8 5 3 5 8 8 7 9 15 17 14 13
(Trích Khí Hậu Việt Nam. – Nha Giám Đốc Khí Tượng năm 1964)
Lượng mưa
Mưa ngoài biển qua nhanh, ở Hoàng Sa không có mùa nào ảm đạm kéo dài, buổi sáng cũng ít khi có sương mù. Lượng mưa trung bình trong năm lối 1.170 mm. Mưa nhiều nhất trong tháng 10 (17 ngày/ 228 mm).
Độ ẩm
Không khí Biển Đông tương đối ẩm thấp hơn những vùng biển khác trên thế giới. Ở cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa, độ ẩm đều cao, ít khi nào độ ẩm xuống dưới 80%. Trung bình vào tháng 6, độ ẩm ở Hoàng Sa suýt soát 85%.
Bão Biển Đông
Bão Biển Đông là bão nhiệt đới theo mùa, thường xảy ra những lúc giao mùa, nhất là từ tháng 6 đến tháng 8. Gió mạnh đến 90 gút. Bão giảm đi từ tháng 9 nhưng cũng vẫn còn đến tháng 1. Tuy vậy, vào giữa mùa gió Đông-Bắc, bão làm biển trở nên động dữ dội hơn và kéo dài trong nhiều ngày.
Khi bão phát xuất từ đảo Lữ Tống đi ngang Hoàng Sa thì binh sĩ Việt Nam Cộng hòa đóng trên đảo thấy các triệu chứng như sau: Trời oi, khí áp xuống nhanh. Trên bầu trời xuất hiện những mây cao bay nhanh như bó lông (cirrus panachés). Vài giờ sau bầu trời bị che phủ bởi một lớp mây rất mỏng (cirro status), mặt trời chung quanh có quầng, rồi dần dần bầu trời trắng nhạt. Sau đó đến lượt những mây thấp có hình vẩy cá (cirro cumulus). Rồi đến một lớp mây đen, dày cao lối 3,000m (altostatus), tất cả trở nên đen, u ám; mưa bắt đầu rơi, gió thổi, khí áp xuống nhanh. Trần mây thấp dần xuống (100m hay 50m), mây bay nhanh, gió thổi mạnh từng cơn, bão đã tới...
Cường độ gió bão có thể lối 50 gút đến 90 gút.
Khi sấm sét đã xuất hiện thì có thể coi như cơn bão đã qua...
Bão Biển Đông
Tháng Giêng Hai Ba Tư Năm Sáu Bảy Tám Chín Mười Mười một Mười hai
Tần suất bão 0,2 <0,1 <0,1 0,1 0,4 0,7 1,7 1,2 1,6 1,5 1,0 1,2
Địa từ
Vùng biển Hoàng Sa trong biển Đông nằm trong vùng "xích đạo từ". Biển Đông nằm trong vùng mà độ sai lệch từ không thay đổi (hoặc thay đổi rất nhỏ). Ở đây hướng kim chỉ nam của la bàn từ gần đúng với hướng Bắc-Nam địa dư, rất thuận lợi cho việc đi biển.
Lịch sử
Diễn biến cuộc tranh chấp chủ quyền theo thời gian[2]:
Trước thời Pháp thuộc
• Những người đánh cá Trung Hoa và Việt Nam sống trên các đảo tuỳ theo mùa nhưng từ bao giờ thì không thể xác định được.
• Đầu thế kỷ 17: Chúa Nguyễn tổ chức khai thác trên các đảo. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải có nhiệm vụ ra đóng ở hai quần đảo, mỗi năm 8 tháng để khai thác các nguồn lợi: đánh cá, thâu lượm những tài nguyên của đảo và những hoá vật do lấy được từ những tàu đắm.
• Năm 1686: (năm Chính Hoà thứ 7) Đỗ Bá Công biên soạn Thiên Nam Tứ chí Lộ Đồ Thư trong Hồng Đức Bản Đồ hay Toản Tập An Nam Lộ trong sách Thiên Hạ Bản Đồ. Tấm bản đồ trong Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ được vẽ theo bút pháp đương thời với lời chú rất rõ ràng: “Giữa biển có một dải cát dài gọi là Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa) dài tới 400 dặm… Họ Nguyễn mỗi năm và cuối mùa Đông đưa 18 chiếc thuyền đến đấy lấy hàng hoá, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn…” , còn bản đồ vẽ trong Toản Tập An Nam Lộ thì ghi chú rất rõ địa danh Bãi Cát Vàng trên biển khơi phía trước của những địa danh trên đất liền như các cửa biển Đại Chiêm, Sa Kỳ, Mỹ Á, phủ Quảng Nghĩa và các huyện Bình Sơn, Chương Nghĩa, Mộ Hoa. (hiện nhà nước CHXHCN Việt Nam còn lưu giữ các bằng chứng lịch sử này)
• Năm 1753: Có 10 người lính của Đội Bắc Hải đến quần đảo Trường Sa: 8 người xuống đảo, còn 2 người thì ở lại canh thuyền. Thình lình cơn bão tới và thuyền bị trôi dạt đến cảng Thanh Lan của Trung Quốc. Chính quyền Trung Hoa cho điều tra, và khi biết các sự kiện, đã cho đưa 2 người lính Việt Nam về[3].
• Năm 1816: Vua Gia Long chính thức chiếm hữu đảo, ra lệnh cắm cờ trên đảo và đo thuỷ trình.
• Năm 1835: Vua Minh Mạng cho xây đền, đặt bia đá, đóng cọc, và trồng cây. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải được trao nhiều nhiệm vụ hơn: khai thác, tuần tiễu, thu thuế dân trên đảo và nhiệm vụ biên phòng bảo vệ hai quần đảo. Hai đội này tiếp tục hoạt động cho đến khi người Pháp vào Đông Dương.
Thời Pháp thuộc
• Năm 1884: Hiệp ước Huế áp đặt chế độ thuộc địa.
• 9 tháng 6 năm 1885: Hiệp ước Pháp – Thanh Thiên Tân là một hiệp ước hữu nghị, chấm dứt xung đột giữa Pháp và Trung Hoa.
• 26 tháng 6 năm 1887: Hiệp ước Pháp – Thanh ấn định biên giới giữa Bắc Việt Nam và Trung Hoa.
• 1895 – 1896: Vụ La Bellona và Imeji Maru. Hai chiếc tàu La Bellona và Imeji Maru bị đắm gần Hoàng Sa, một chiếc bị đắm năm 1895 và chiếc kia bị đắm năm 1896. Những người đánh cá ở Hải Nam bèn thu lượm đồng từ hai chiếc tàu bị đắm. Các công ty bảo hiểm của hai chiếc tàu này phản đối chính quyền Trung Hoa. Chính quyền Trung Hoa trả lời là Trung Hoa không chịu trách nhiệm, vì Hoàng Sa không phải là lãnh thổ của Trung Hoa, và cũng không phải của An Nam[4]
• Năm 1899: Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đề nghị chính phủ Pháp xây ngọn hải đăng nhưng không thành vì tài chính bị thiếu.
• Đầu năm 1907: Nhật Bản chiếm Đông Sa (Pratas) làm cho các nhà cầm quyền miền Nam Trung Quốc quan tâm đến các đảo trên Biển Đông.
• Tháng 5 năm 1909: Tổng đốc Lưỡng Quảng Trương Nhân Tuấn phái đô đốc Lý Chuẩn đem 3 pháo thuyền ra thăm chớp nhoáng một vài đảo trên quần đảo Hoàng Sa rồi về.
• Năm 1920: Mitsui Busan Kaisha xin phép Pháp khai thác quần đảo Hoàng Sa. Pháp từ chối.
• Bắt đầu năm 1920: Pháp kiểm soát quan thuế và tuần tiễu trên đảo.
• 8 tháng 3 năm 1921: Toàn quyền Đông Dương tuyên bố hai quần đảo: Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Pháp.
• 30 tháng 3 năm 1921: Chính quyền miền Nam Trung Quốc ra quyết định sáp nhập quần đảo Hoàng Sa (mà họ gọi là Tây Sa) vào đảo Hải Nam. Từ đó bắt đầu có sự tranh chấp giữa Trung Quốc và Pháp về chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, và từ thập niên 1930 trên quần đảo Trường Sa.
• Bắt đầu từ năm 1925: Tiến hành những thí nghiệm khoa học trên đảo do Dr. Krempt, Giám đốc Viện Hải dương học Nha Trang tổ chức.
• Năm 1927: Tàu De Lanessan viếng thăm quần đảo Trường Sa.
• Năm 1930: Ba tàu Pháp, La Malicieuse, L’Alerte và L’Astrobale, chiếm quần đảo Trường Sa và cắm cờ Pháp trên quần đảo này.
• Năm 1931: Trung Hoa ra lệnh khai thác phân chim tại quần đảo Hoàng Sa, ban quyền khai thác cho Công ty Anglo-Chinese Development. Pháp phản đối.
• Trong suốt các năm 1931 - 1932, Pháp liên tục phản đối việc Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa.
• Năm 1932: Pháp chính thức tuyên bố An Nam có chủ quyền lịch sử trên quần đảo Hoàng Sa. Pháp sáp nhập quần đảo Hoàng Sa với tỉnh Thừa Thiên.
• Năm 1932, Đông Dương thuộc Pháp (French Indochina) sáp nhập quần đảo vào lãnh thổ của mình. Pháp lần lượt đặt một trạm khí tượng trên đảo Woody (tiếng Pháp: île Boisée) mang số hiệu 48859 và một trạm khí tượng trên đảo Pattle mang số hiệu 48860.
• Năm 1933: Quần đảo Trường Sa được sáp nhập với tỉnh Bà Rịa. Pháp cũng đề nghị với Trung Hoa đưa vấn đề ra Toà án Quốc tế nhưng Trung Hoa từ chối.
• Năm 1935: Lần đầu tiên Trung Quốc chính thức công bố một bản đồ có cả 4 quần đảo trên Biển Đông là của Trung Quốc. Công hàm của Công sứ Trung Quốc ở Paris gửi Bộ Ngoại giao Pháp năm 1932 còn viết rằng: "Các đảo Tây Sa là bộ phận lãnh thổ Trung Quốc xa nhất về phía Nam".
• Năm 1938: Pháp cho đặt bia đá, xây hải đăng, đài khí tượng và đưa đội biên phòng người Việt ra để bảo vệ đảo Pattle (đảo Hoàng Sa) của quần đảo Hoàng Sa.
• Ngày 30 tháng 3 năm 1938: Vua Bảo Đại ra đạo dụ tách quần đảo Hoàng Sa khỏi địa hạt tỉnh Nam Ngãi nhập vào tỉnh Thừa Thiên. Đạo dụ ghi rõ: Các cù lao Hoàng Sa thuộc về chủ quyền nước Nam đã lâu đời. Chính quyền Pháp và An Nam đã dựng bia chủ quyền cho quần đảo Hoàng Sa trên đảo Pattle. Trên bia có ghi: République française - Royaume d'Annam - Archipel des Paracels 1816 - île Pattle - 1938.
• Năm 1939: Đế quốc Nhật tấn công chiếm giữ đảo.
• Năm 1946: Nhật bại trận phải rút lui. Pháp trở lại Pattle (An Vĩnh) nhưng vì chiến cuộc ở Việt Nam nên phải rút.
• Năm 1946: Dựa trên Tuyên bố Cairo và Tuyên bố Potsdam, 4 tàu chiến của Trung Hoa Dân Quốc đổ bộ lên quần đảo với lý do giải giáp quân Nhật. Ngày 7 tháng 1 năm 1947, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc tuyên bố họ đã chiếm giữ quần đảo Tây Sa nhưng thực ra mới chỉ chiếm đảo Phú Lâm (Woody Island) mà họ gọi là đảo Vĩnh Hưng. Pháp phản đối và gửi quân Pháp-Việt trở lại đảo. Hai bên đàm phán tại Paris. Pháp đề nghị đưa ra Trọng tài quốc tế nhưng Trung Hoa từ chối.
• Ngày 17 tháng 1 năm 1947: Pháo hạm Le Tonkinois của Hải quân Pháp đến quần đảo Hoàng Sa để đòi quân đội Tưởng Giới Thạch rút khỏi đây. Khi yêu cầu này bị từ chối, quân Pháp bèn đổ 10 quân nhân Pháp và 17 quân nhân Việt Nam chiếm giữ đảo Hoàng Sa (Pattle Island).
• Tháng 4 năm 1950: Quân đội Tưởng Giới Thạch rút khỏi đảo Phú Lâm.
• Ngày 14 tháng 10 năm 1950: Chính phủ Pháp chính thức chuyển giao quyền kiểm soát quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa cho chính phủ Quốc gia Việt Nam, do Bảo Đại đứng đầu.
• Ngày 6 tháng 9 năm 1951: Tại Hội nghị San Francisco về Hiệp ước Hoà bình với Nhật Bản, vốn không chính thức xác định rõ các quốc gia nào có chủ quyền trên quần đảo, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu (chính phủ Bảo Đại) tuyên bố rằng cả quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa đều thuộc lãnh thổ Việt Nam, và không gặp phải kháng nghị hay bảo lưu nào từ 51 nước tham dự hội nghị. Tuyên bố này nhằm lợi dụng tất cả mọi cơ hội minh định trên diễn đàn quốc tế xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời trên quần đảo Spratlys và Paracels của nước Việt Nam, để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này. Tại hội nghị này, đại biểu Liên Xô đã đề nghị trao hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung Quốc, nhưng đề nghị này đã bị bác bỏ với 46 phiếu chống, 3 phiếu thuận và văn kiện của hội nghị ký ngày 8 tháng 9 năm 1951 chỉ ghi về hai quần đảo là "Nhật Bản từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với hai quần đảo".
Sau thời Pháp thuộc
• Tháng 4 năm 1956: Việt Nam Cộng hoà thay thế Pháp giữ chủ quyền quần đảo. Riêng hai đảo lớn nhất là Phú Lâm và Linh Côn đã bị Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) bí mật chiếm trước khi quân đội Việt Nam Cộng hòa ra đóng quân, đảm nhiệm việc quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa theo đúng trách nhiệm mà Hiệp định Genève năm 1954 quy định.
• Trong thời gian này, chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã luôn khẳng định và duy trì các quyền chủ quyền của mình một cách liên tục và hoà bình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các hoạt động nhà nước.
• Ngày 1 tháng 6 năm 1956: Ngoại trưởng Việt Nam Cộng hoà Vũ Văn Mẫu xác nhận lại chủ quyền của Việt Nam trên cả hai quần đảo [5] [6].
• Ngày 22 tháng 8 năm 1956: Một đơn vị hải quân Việt Nam Cộng hòa cắm cờ trên quần đảo Trường Sa và dựng bia đá. [6]
• Ngày 4 tháng 9 năm 1958: Thủ tướng CHNDTH Chu Ân Lai công bố quyết định của Chính phủ Trung Quốc nới rộng lãnh hải ra 12 hải lý, có đính kèm bản đồ đường ranh giới lãnh hải tính từ lục địa và các hải đảo thuộc Trung Quốc trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa. [7]
• Ngày 14 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai với nội dung: "Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc" Công hàm này cũng đăng trên báo Nhân Dân ngày 22 tháng 9 cùng năm. [8] [9]. Ngoài ra, sau này, Trung Quốc cũng đã nêu một số tài liệu khác do chính Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phổ biến để làm bằng cớ về sự thỏa thuận nhượng biển của Hà Nội. [1]
• Ngày 13 tháng 7 năm 1961: Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ban hành sắc lệnh số 174 NV, trong đó ấn định: "Quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam. Một đơn vị hành chánh xã bao gồm trọn quần đảo này được thành lập và lấy danh hiệu là xã Định Hải trực thuộc quận Hòa Vang. Xã Định Hải đặt dưới quyền một phái viên hành chánh".
• Ngày 21 tháng 10 năm 1969: Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Cộng hòa ký nghị định số 709-BNV/HCĐP để "Sáp nhập xã Định Hải thuộc quận Hòa Vang tỉnh Quảng Nam vào xã Hòa Long cùng quận".
• CHNDTH chiếm quần đảo Hoàng Sa từ ngày 19 tháng 1 năm 1974 khi quân đội của họ tấn công quân đồn trú Việt Nam Cộng hòa và chiếm các đảo phía tây trong trận Hải chiến Hoàng Sa năm 1974.
• Ngày 20 tháng 1 năm 1974: Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam) đã ra bản tuyên bố phản đối hành động này của phía Trung Quốc.
• Ngày 14 tháng 2 năm 1975: Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa công bố Sách trắng về các quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
• Ngày 2 tháng 7 năm 1976: Việt Nam thống nhất dưới tên gọi mới Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ đó, với tư cách kế thừa quyền sở hữu các quần đảo từ các chính quyền trước, Nhà nước CHXHCN Việt Nam có trách nhiệm duy trì việc bảo vệ chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và đã ban hành nhiều văn bản pháp lý quan trọng liên quan trực tiếp đến hai quần đảo.
• Cùng với bản Hiến pháp các năm 1980, 1992, Luật biên giới quốc gia năm 2003, Tuyên bố của Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12 tháng 11 năm 1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, Tuyên bố của Chính phủ ngày 12 tháng 11 năm 1982 về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam đều khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam.
• Trong các năm 1979, 1981 và 1988, Bộ Ngoại giao Việt Nam đều có công bố các Sách trắng về chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
• Ngày 9 tháng 12 năm 1982: Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị định tổ chức quần đảo Hoàng Sa thành huyện đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.
• Nghị quyết ngày 6 tháng 11 năm 1996 tại kỳ họp thứ X Quốc hội khoá IX nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tách huyện Hoàng Sa khỏi tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng cũ, sáp nhập vào thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương.
• Ngày 23 tháng 6 năm 1994; Quốc hội Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 5 phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 có nghị quyết nêu rõ: "Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và chủ trương giải quyết các bất đồng liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượng hòa bình, trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, tôn trọng chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản lâu dài, các bên liên quan cần duy trì ổn định trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực". Quốc hội nhấn mạnh: "Cần phân biệt vấn đề giải quyết tranh chấp quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa với các vấn đề bảo vệ các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, căn cứ vào những nguyên tắc và những tiêu chuẩn của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982".
• Ngày 4 tháng 11 năm 2002: Tại Phnom Penh (Campuchia), Việt Nam cùng các quốc gia trong khối ASEAN và Trung Quốc đã ký kết Bản tuyên bố ứng xử trên Biển Đông (DOC), đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề trên biển và duy trì ổn định ở khu vực.
Tranh chấp chủ quyền


Biển Đông với các khu vực và tài nguyên tranh chấp giữa các nước
Hoàng Sa nằm giữa một khu vực có tiềm năng cao về hải sản và trữ lượng dầu mỏ nhưng không có dân bản địa sinh sống. Vào năm 1932, chính quyền Pháp ở Đông Dương chiếm giữ quần đảo này và Việt Nam tiếp tục nắm giữ chủ quyền cho đến năm 1974 (trừ hai đảo Phú Lâm và Linh Côn do Trung Quốc chiếm giữ từ năm 1956). Trung Quốc chiếm giữ toàn bộ Hoàng Sa từ năm 1974 sau khi dùng hải và không quân tấn công căn cứ quân sự của Việt Nam Cộng Hoà ở nhóm đảo phía tây trong Hải chiến Hoàng Sa, 1974. Đài Loan và Việt Nam cũng đang tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo này.
Tháng 1 năm 1982, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã công bố sách trắng Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa: lãnh thổ Việt Nam, trong dó nêu nhiều lý lẽ chứng minh Hoàng Sa là của Việt Nam. Có rất nhiều bằng chứng nghiên cứu độc lập cho thấy Hoàng Sa là của Việt Nam.
Ý nghĩa của quần đảo Hoàng Sa
Quần đảo Hoàng Sa tuy chỉ gồm một số đảo nhỏ chơ vơ giữa Biển Đông, có một thời không được các nước trong khu vực chú ý, không có cư dân sinh sống thường xuyên, chỉ có người Việt ra khai thác theo mùa các tài nguyên như phân chim, tổ yến, san hô, đánh cá trong hàng thế kỷ. Nhưng cùng với sự tiến bộ của khoa học và kỹ thuật, sự xuất hiện các khái niệm về chủ quyền lãnh hải, sự ra đời của luật biển, khả năng khai thác tài nguyên biển nhất là dầu khí thì các quốc gia có tiềm lực và tầm nhìn xa bắt đàu nhòm ngó quần đảo này như một cơ sở khí tượng thủy văn, quan trọng hơn là một cơ sở hậu cần và là căn cứ quân sự chiến lược trong tương lai có khả năng khống chế Biển Đông, đường giao thông trên biển và cả trên không trong khu vực, một cơ sở luật pháp để bành trướng chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải trên phần lớn Biển Đông cho phép khai thác các tài nguyên biển nhất là dầu và khí.
Việc để mất quần đảo Hoàng Sa đã có tác động xấu đến nghề cá và dự báo khí tượng thủy văn của Việt Nam.
Công tác dự báo bão xa, đặt trạm phát tín hiệu trên Biển Đông, công tác cứu hộ, cứu nạn các tàu cá trong cơn bão số 1 Chanchu tháng 5 năm 2006 gặp nhiều khó khăn cũng do mất quyền kiểm soát quần đảo Hoàng Sa.
Đến tháng 9 năm 2006 khi cơn Bão Xangsane (2006) vào biển Đông thì Trung Quốc lại ngăn cản không cho tàu cá Việt Nam vào tránh bão ở quần đảo Hoàng Sa[10].
Bộ đội biên phòng Việt Nam sau này cũng gặp nhiều khó khăn trong việc bảo đảm an toàn tính mạng và tài sản của ngư dân Việt Nam trên biển Đông. Theo tin của Bộ đội biên phòng tại Đà Nẵng[11], khoảng 16h20’ ngày 27 tháng 6 năm 2006, lúc tránh bão số 2, 18 tàu đánh cá xa bờ của Đà Nẵng đã neo đậu tại phía bắc quần đảo Hoàng Sa, có một tàu lạ của nước ngoài đã thả ca nô số 301, trên đó có 6 người, tới cập mạn tàu ĐNa 90052 TS, cướp 25 phi dầu, 4 tấn mực khô, 10 thùng nước ngọt, 18 vỏ phi nhựa sau đó xua đuổi tàu không cho tránh bão[12].
Ngư dân Việt Nam đánh bắt trên vùng biển mà họ cho là thuộc về chủ quyền Việt Nam không thể tranh cãi với Hải quân Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc vì bất đồng ngôn ngữ và vì quân Trung Quốc xả súng bắn tới tấp[13] làm vỡ thuyền cá, làm bị thương bị chết nhiều ngư dân Việt Nam trong tám tháng đầu năm 2007. Số còn sống sót thì bị bắt đem về đảo Hải Nam chữa chạy qua loa ngoài da rồi bắt gọi điện về thân nhân ở Việt Nam gởi tiền chuộc hàng trăm triệu đồng mà vẫn chưa chịu thả người[14].
Quan trọng hơn việc mất quyền kiểm soát quần đảo Hoàng Sa tạo cơ sở cho Trung Quốc tiếp tục yệu cầu bành trướng lãnh thổ, lãnh hải về phương nam, chí ít cũng là qua việc công bố và cung cấp qua mạng các bản đồ "chuẩn" của Cục bản đồ quốc gia Trung Quốc trong đó lãnh hải và thềm lục địa mà Trung Quốc yêu sách bao gồm phần lớn Biển Đông, tới tận lãnh hải Malaysia.
Quan điểm của Chính phủ Việt Nam là Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền và quyền hợp pháp của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam, trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản và lâu dài, các bên liên quan cần duy trì ổn định trên cơ sở giữ nguyên trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình.
Báo tiếng Anh của Đảng Cộng sản Trung Quốc, tờ China Daily, hôm 10 tháng 8 năm 2007 đưa tin về kế hoạch khai thác du lịch Hoàng Sa của giới chức đặc khu Hải Nam, đã được chính phủ Trung Quốc thông qua. Quan chức từ Sở Du lịch Hải Nam nói các công ty lữ hành lớn sẽ được phép mở các tua du lịch tới Hoàng Sa, theo các lộ trình sắp sẵn. Việt Nam cực lực phản đối việc khai thác du lịch này[15].
Tổ chức hành chính
Việt Nam
Việt Nam tổ chức quần đảo thành huyện đảo Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng.
• Ngày 15 tháng 6 năm 1932, Toàn quyền Đông Dương thiết lập đại lý hành chính ở Hoàng Sa.
• Trước năm 1938, quần đảo Hoàng Sa thuộc phủ Quảng Nghĩa, tỉnh Quảng Nam.
• Ngày 30 tháng 3 năm 1938, vua Bảo Đại ký đạo dụ chuyển Hoàng Sa về tỉnh Thừa Thiên.
• Ngày 5 tháng 5 năm 1939, Toàn quyền Đông Dương Jules Brévié chia quần đảo thành hai đại lý hành chính: délégation du Croissant et dépendences (đại lý Trăng Khuyết và phụ cận) và délégation de l'Amphitrite et dépendences (đại lý Tuyên Đức và phụ cận).
• Ngày 13 tháng 7 năm 1961, Tổng Thống Ngô Đình Diệm ban hành sắc lệnh số 175-NV đặt tên là xã Định Hải, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.
• Nghị định số 709-BNV-HC ngày 21 tháng 10 năm 1969 của Thủ Tướng Chính Phủ Việt Nam Cộng hòa đã sáp nhập xã Định Hải vào xã Hòa Long cũng thuộc quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.
• Từ năm 1982 là huyện đảo thuộc tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng và từ năm 1996 thuộc thành phố Đà Nẵng.
Huyện đảo Hoàng Sa, được thành lập từ tháng 1 năm 1997, là một quần đảo san hô nằm cách thành phố Đà Nẵng 170 hải lý (khoảng 315 km), bao gồm các đảo: đảo Hoàng Sa, đảo Đá Bắc, đảo Hữu Nhật, đảo Đá Lồi, đảo Bạch Quy, đảo Tri Tôn, đảo Cây, đảo Bắc, đảo Giữa, đảo Nam, đảo Phú Lâm, đảo Linh Côn, đảo Quang Hòa, Cồn Bông Bay, Cồn Quan Sát, Cồn Cát Tây, Đá Chim Yến. Huyện đảo Hoàng Sa có diện tích: 305 km², chiếm 24,29% diện tích thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên hiện nay toàn bộ huyện đảo này đang bị Trung Quốc xâm chiếm từ năm 1974.
Trung Quốc
Quần đảo Hoàng Sa được Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa coi là một phần của tỉnh Hải Nam. Về mặt hành chính nó thuộc cấp "biện sự xứ", bao gồm cả ba quần đảo Tây Sa, Nam Sa và Trung Sa (西南中沙群島辦事處 Tây Nam Trung Sa quần đảo biện sự xứ).
Trung Quốc tuyên bố kế hoạch mở cửa du lịch quần đảo vào năm 1997. Họ mở rộng những cảng nhỏ ở đảo Phú Lâm và đảo Quang Ảnh. Tại đây có một phi trường với đường băng dài 1200 m.
Các nghiên cứu và tài liệu
Vào thế kỷ thứ 18, bộ sách Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn đã có nói tới Hoàng Sa và Trường Sa. Cuốn sách này cũng kể việc người Việt Nam đã khai thác hai quần đảo này ngay từ thời Lê mạt. Các tài liệu khác nói về chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa là bộ Hoàng Việt Địa Dư Chí được ấn hành vào năm Minh Mạng thứ 16 tức là năm 1834 và Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú (1782-1840). Sách Hoàng Việt địa dư chí có chép:
Quần đảo Hoàng Sa ở ngoài khơi, các vua đời trước đặt ra đội quân giữ Hoàng Sa gồm 70 người, thường là lấy người xã An Vĩnh (Quảng Ngãi - huyện Bình Sơn - phủ Tư nghĩa) để luôn luôn canh giữ. Hàng năm cứ đến tháng 3 nhận lệnh mang theo lương thực trong 6 tháng rồi dùng 5 chiếc thuyền ra khơi, đi trong 3 ngày 3 đêm thì đến đảo, đến nơi vừa canh giữ, vừa đánh cá mà ăn. Vật báu ở đó rất nhiều, nên đội quân này vừa làm nhiệm vụ canh giữ, vừa khai thác vật báu. Đến tháng 8 thì về, họ vào Cửa Eo (Thuận An) lên tâu nộp ở thành Phú Xuân.
Ngoài các sử gia bản xứ, một số các tác giả người Pháp cũng nói tới chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa. Vào năm 1836 Đức giám mục Taberd đã viết trong cuốn sách Địa dư, lịch sử và mô tả mọi dân tộc cùng với tôn giáo và phong tục của hội (Univer, histoire et description de tous les peuples, de leurs religion et coutumes) như sau:
Tôi không kể dài dòng về những đảo thuộc Nam Kỳ, nhưng chỉ nhận xét rằng từ 34 năm nay, người Nam Kỳ đã chiếm cứ nhóm quần đảo Paracels mà người An Nam gọi là Cát Vàng hay Hoàng Sa, thực là những hòn đảo nhỏ bí hiểm, gồm những mỏm đá xen lẫn với các bãi cát mà những người đi biển đều kinh hãi. Tôi không rõ họ có thiết lập cơ sở gì ở đó không, nhưng chắc chắn rằng Hoàng Đế Gia Long nhất định muốn mở rộng lãnh thổ của Hoàng Triều bằng cách chiếm quần đảo này, và vào năm 1816, ngài đã long trọng trương lá cờ tại đây.
Trong tác phẩm Hồi ký về Đông Dương, tác giả Jean Baptiste Chaigneau cũng ghi rằng vua Gia Long đã chính thức thu nhận quần đảo Hoàng Sa vào năm 1816. Khi người Pháp đặt nền bảo hộ trên toàn cõi Đông Dương, họ cũng tiếp tục lãnh nhiệm vụ bảo vệ Hoàng Sa. Vào các năm 1895 và 1896, có hai chiếc thương thuyền tên Bellona và Iruezi Maru chở đồng cho người Anh bị đắm tại nhóm đảo Tuyên Đức và bị người Trung Hoa đến đánh cướp. Đại diện người Anh tại Bắc Kinh đòi nhà Thanh phải bồi thường vì có một số đồng được đem về bán tại đảo Hải Nam. Nhưng chính quyền nhà Thanh không chịu bồi thường, viện cớ quần đảo Hoàng Sa không thuộc chủ quyền của Trung Hoa.
Đại Thanh đế quốc toàn đồ xuất bản năm 1905, tái bản lần thứ tư năm 1910 chỉ vẽ đế quốc Đại Thanh đến đảo Hải Nam.
Trung Quốc địa lý học Giáo khoa thư xuất bản năm 1906 viết: "Điểm mút của Trung Hoa ở Đông Nam là bờ biển Nhai Châu, đảo Quỳnh Châu, vĩ tuyến 18°13' Bắc".
Sau sự kiện tháng 1 năm 1974, các học giả Trung Quốc tìm kiếm trong sách cổ, dựa vào các chi tiết liên quan đến biển Đông mà họ gọi là Nam Hải, để làm bằng chứng cho luận thuyết "các đảo Nam hải xưa nay là lãnh thổ Trung Quốc" do nhân dân Trung Quốc "phát hiện và đặt tên sớm nhất", "khai phá và kinh doanh sớm nhất", do Chính phủ Trung Quốc "quản hạt và hành sử chủ quyền sớm nhất". Đầy đủ nhất có thể kể đến cuốn Tổng hợp sử liệu các đảo Nam Hải nước ta do Hàn Chấn Hoa, một giáo sư có tên tuổi ở Trung Quốc và nước ngoài, chủ biên (1995-1998), xuất bản năm 1988. Các ấn phẩm về sau như của Phan Thạch Anh và nhiều học giả Đài Loan cũng chủ yếu dựa theo cuốn sách này.
Năm 1996, cuốn Chủ quyền trên quần đảo Paracels và Spratlys của bà Monique Chemilier Gendreau, một luật sư, giáo sư có tên tuổi ở Pháp và nước ngoài đã làm cho các học giả Trung Quốc bối rối và họ đã mời bà sang Bắc Kinh nói là để cung cấp thêm tài liệu. Bà đã đến Bắc Kinh và đối mặt với mấy chục học giả Trung Quốc. Bà cho biết học giả Trung Quốc không giải đáp được những vấn đề do bà đặt ra, không đưa ra được bất kỳ bằng chứng nào có sức thuyết phục.
Ngày 3 tháng 9 năm 1993, trong bài đăng trên tạp chí Window (Hồng Kông), tác giả Phan Thạch Anh đưa ra sự kiện quần đảo Nam Sa được sát nhập vào đảo Nam Hải năm thứ 5 niên hiệu Trinh Nguyên đời nhà Đường (789) và thủy quân đời nhà Nguyên đã đi tuần quần đảo Nam Sa năm 1293. Nhưng khi tạp chí Thông tin khoa học xã hội số 4/1994 của Việt Nam khẳng định và chỉ rõ tài liệu liên quan đến hai sự kiện này không liên quan gì đến các quần đảo ở Biển Đông thì trong cuốn sách mới xuất bản về quần đảo Nam Sa năm 1996, tác giả Phan Thạch Anh đã không nhắc đến hai sự kiện này nữa.
Một trong những nghiên cứu mới nhất được công bố về Hoàng Sa là luận án tiến sĩ của ông Nguyễn Nhã, đề tài Quá trình xác lập chủ quyền của VN tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa[2], bảo vệ ngày 18 tháng 1 năm 2003 (29 năm sau trận hải chiến giữa Trung Quốc và Việt Nam Cộng hòa) tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM. Ông Nguyễn Nhã nói: "Với luận án tiến sĩ này, tôi thách thức các nhà nghiên cứu các nước, kể cả Trung Quốc, có một đề tài xác lập chủ quyền Hoàng Sa mang tính khoa học được như tôi" [3].
Ghi chú
1. ^ Journal de Voyage aux Paracels, Jean Yves Claeys, báo Indochine, Hànội, các số 44, 45, 46, năm 1941
2. ^ Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Thử phân tích lập luận của Việt Nam và Trung Quốc
3. ^ Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục. Trích từ Les archipels de Hoang Sa et de Truong Sa selon les anciens ouvrages viêtnamiens d’histoire et de geographie của Võ Long Tê, Sài Gòn, 1974, tr. 62.
4. ^ Eveil economique de l’Indochine, no. 741.
5. ^ Nguyễn Nhã, Đài Loan thừa gió bẻ măng, chiếm đảo Ba Bình, Tuổi Trẻ, 31/01/2008
6. ^ a b Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, TpHCM:Nxb Trẻ, 2008, tr. 110
7. ^ Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, TpHCM:Nxb Trẻ, 2008, tr. 158, 201
8. ^ Công hàm ngày 14 tháng 9 của thủ tướng Phạm Văn Đồng
9. ^ Lưu Văn Lợi, Cuộc tranh chấp Việt Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 1995, tr.105. Dẫn lại theo Từ Đăng Minh Thu, "Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa - Thử phân tích lập luận của Việt Nam và Trung Quốc", trong Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, TpHCM, Nxb Trẻ, 2008, tr. 158-159
10. ^ Đã gọi được trên 21.700 tàu thuyền tránh bão 30/09/2006
11. ^ Chưa xác định được danh tính tàu lạ Thứ năm 29.06.2006
12. ^ Các tàu cá đang tránh bão bị tàu lạ cướp tài sản? 17:36' 28/06/2006 (GMT+7)
13. ^ Lời kể ngư dân bị tàu Trung Quốc bắn 23 Tháng 10 2007 - Cập nhật 08h12 GMT
14. ^ Đợi chờ ngư phủ trở về nhà 23 Tháng 10 2007 - Cập nhật 07h40 GMT
15. ^ TQ khai thác du lịch Hoàng Sa 19 Tháng 8 2007 - Cập nhật 23h51 GMT
Tham khảo
• Sách "Hoàng Việt địa dư chí" do Phan Huy Chú biên soạn. Bản in vào mùa xuân, niên hiệu Thành Thái thứ 9 (1897) hiện được lưu trữ tại thư viện Harvard - Yenching thuộc Đại học Harvard.
• Nguyễn Nhã, Nguyễn Đình Đầu, Lê Minh Nghĩa, Từ Đặng Minh Thu, Vũ Quang Việt, Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, TpHCM, Nxb Trẻ, 2008.
8. Đảo Bạch Long Vĩ
Bạch Long Vĩ là một huyện đảo thuộc Hải Phòng, nằm trên hòn đảo cùng tên với diện tích vào khoảng 2,5 km² khi có thủy triều lên và khoảng 4 km² khi thủy triều xuống. Đảo nằm theo hướng Đông Bắc- Tây Nam. Đảo Bạch Long Vĩ (20°07'35" và 20°08'36" vỹ độ Bắc; 107°42'20" - 107°44'15" kinh độ Đông), nằm ở giữa Vịnh Bắc Bộ (cách Hòn Dấu - Hải Phòng 110 km, cách đảo Hạ Mai 70 km, cách mũi Ta Chiao - Hải Nam 130 km). Đảo có một vị trí quan trọng trong việc mở rộng các vùng biển và phân định biển Vịnh Bắc Bộ. Ngoài ra, đảo còn nằm trên một trong 8 ngư¬ trường lớn của Vịnh, có một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, an ninh - quốc phòng biển của Việt Nam ở Vịnh Bắc Bộ.
Phần lớn dân trên đảo là những thanh niên của các tỉnh duyên hải Bắc Bộ ra lập vùng kinh tế mới vào thập kỉ 80 của thế kỉ 20.
Lịch sử
Từ thế kỷ 19 trở về trước, do không tìm được nguồn nước nên con người không định cư, đảo còn có tên Vô Thủy và một tên khác là Phù Thủy Châu.
Theo hiệp ước Pháp - Thanh 1887, Bạch Long Vĩ - nằm phía tây kinh tuyến 105°43' tính từ Paris (tức 108°43') trong vịnh Bắc Bộ - thuộc về nước An Nam (xứ bảo hộ của Pháp).
1920, sau khi tìm được nguồn nước ngọt, dân cư vùng Quảng Yên - Việt nam tới đây sinh sống, lập nghiệp bằng nghề chăn nuôi, trồng trọt và khai thác hải sản.
1937, vua Bảo Đại phái người tới đảo lập đồn canh phòng và xây dựng chế độ lý trưởng.
Trong chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương và cho quân ra đảo tước khí giới của binh lính Bảo Đại. Năm 1946, Pháp quay trở lại Đông Dương tiếp tục khôi phục lại chế độ cai trị trên đảo.
Năm 1949, Quốc dân đảng (Trung Quốc) thua trận chạy ra Đài Loan, chiếm Bạch Long Vĩ. Tháng 7 năm 1955, quân cộng sản Trung Quốc đánh chiếm đảo.
Ngày 16/01/1957, Việt nam Dân chủ Cộng hoà đã tiếp quản đảo, khẳng định chủ quyền của Nhà nước Việt nam đối với đảo, vùng biển, vùng trời và thềm lục địa xung quanh đảo. Trước khi giải phóng, trên đảo có 135 hộ dân với 518 người sinh sống.
Ngày 16/01/1957, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ra Nghị định số 49/TTg quy định đảo Bạch Long Vĩ là xã trực thuộc Uỷ ban nhân dân thành phố Hải phòng. Cũng trong năm này, trên đảo đã có Hợp tác xã nông ngư gồm 63 lao động chính và 31 lao động phụ, có 22 ha đất canh tác, 11 thuyền, 2 tầu đấnh cá và các ngư lưới phục vụ đánh bắt hải sản.
Cuối năm 1965, Chiến tranh Việt nam leo thang, Mỹ ném bom miền Bắc Việt Nam, toàn bộ dân cư của đảo đã được sơ tán về đất liền. Từ năm 1965 cho đến 1992, trên đảo chỉ có lực lượng vũ trang (Tiểu đoàn 152 sau này là Trung đoàn 952 Vùng I hải quân) làm nhiệm vụ.
Ngày 09/12/1992, Chính phủ ra Nghị định số 15/NĐ/CP quy định thành lập huyện đảo Bạch Long Vĩ thuộc thành phố Hải phòng. Ngày 26/02/1993, Hải Phòng đã tổ chức đưa 62 thanh niên xung phong và một số hộ ngư dân đầu tiên ra sinh sống và làm việc tại đảo. Ngày 27/7/1994, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 379/TTg phê duyệt Luận chứng kinh tế kỹ thuật tổng thể xây dựng huyện đảo Bạch Long Vĩ.
9. Đảo Ba Bình
Đảo Ba Bình (tên quốc tế: Itu Aba) (toạ độ 10° 23’ bắc, 114° 22’ đông) là hòn đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền tuy nhiên đảo hiện đang bị Đài Loan chiếm giữ. Trung Quốc và Đài Loan gọi đảo này là đảo Thái Bình (太平島). Đảo có chu vi 2,8 km, diện tích 43,2 hectare và có một vòng đá san hô bao chung quanh. Chiều dài đảo là 1470m, chiều rộng 500m, có độ cao trung bình 2,8m. Trên đảo có mọc các loại cây dừa, chuối, đu đủ, cây cọ cao khoảng 7m và nhiều bụi rậm. Trên đảo có một giếng nước và có nhiều công sự bỏ hoang ở phía tây nam.
Theo học giả Vương Hồng Sển, tên của nó có thể bắt nguồn từ việc một vị quan cai trị người Pháp phải đặt mật hiệu cho hòn đảo này nhưng còn chưa nghĩ ra. Sau đó ông đặt tên cho nó theo hai người hầu ở trong nhà ông là Chị Tư và Chị Ba. Vì người Pháp không đọc âm "h" nên thành Itu Aba[1]. Điều này trái ngược hoàn toàn với cách giải thích rằng tên hòn đảo bắt nguồn từ tiếng Malaysia là "Widuabe".
10. Huyện đảo Vân Đồn
Vân Đồn là một huyện đảo của tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam.
Hành chính
Vân Đồn có 12 đơn vị hành chính gồm thị trấn Cái Rồng và 11 xã:
• 6 xã trên đảo Cái Bầu và các đảo nhỏ trong vùng biển phụ cận đảo Cái Bầu, ở phía Tây Bắc của huyện, là các xã: Ðông Xá, Hạ Long, Bình Dân, Ðoàn Kết, Ðài Xuyên, Vạn Yên;
• 5 xã thuộc tuyến đảo Vân Hải vòng ra ngoài khơi, ôm lấy rìa phía đông của vịnh Bái Tử Long, là các xã: Minh Châu, Quan Lạn, Ngọc Vừng, Bản Sen, Thắng Lợi.
Địa lý


Một phần vịnh Bái Tử Long gần đảo Quan Lạn
Vân Đồn là một quần đảo vòng quanh phía Đông và Đông Bắc vịnh Bái Tử Long, nhưng lại nằm ở phía Đông và Đông Nam của tỉnh Quảng Ninh. Nó gồm 600 hòn đảo lớn nhỏ. Đảo lớn nhất Cái Bầu, diện tích chiếm khoảng non nửa diện tích đất đai của huyện, trước có tên là Kế Bào, ở phía Tây Bắc huyện nằm kề cận đất liền lục địa, cách đất liền bởi lạch biển Cửa Ông và sông Voi Lớn. Trong địa phận xã Vạn Yên còn có đảo Chàng Ngo cũng tương đối lớn. Huyện lỵ là thị trấn Cái Rồng, nằm trên đảo Cái Bầu, cách thành phố Hạ Long khoảng 50 km, cách Cửa Ông 7 km (theo đường 31 qua cầu Vân Đồn và bến phà Tài Xá). Tuyến đảo Vân Hải, nằm ở rìa phía Đông Nam của huyện, gồm các đảo lớn như: Trà Bàn, Cao Lô, Quan Lạn, Đông Chén, Thẻ Vàng, Ngọc Vừng, Cảnh Tước, … và một loạt các đảo nhỏ khác, thành bức bình phong che chắn ngoài khơi vịnh Bái Tử Long. Diện tích đất đai xã Bản Sen chiếm nửa già diện của đảo Trà Bản, đảo lớn thứ hai trong huyện, cùng với đảo Đông Chén và các đảo nhỏ lân cận.
Huyện Vân Đồn có các phía Tây Bắc giáp vùng biển huyện Tiên Yên và Đông Bắc giáp vùng biển huyện Đầm Hà, phía Tây giáp thị xã Cẩm Phả, ranh giới với các huyện thị trên là lạch biển Cửa Ông và sông Voi Lớn, phía đông giáp vùng biển huyện Cô Tô, phía Tây Nam giáp vịnh Hạ Long, thành phố Hạ Long, và vùng biển Cát Bà thuộc Thành phố Hải Phòng, phía Nam là vùng biển ngoài khơi vịnh Bắc Bộ.
Huyện Vân Đồn có diện tích tự nhiên 59.676 ha. Trong tổng số 600 hòn đảo thuộc huyện thì có hơn 20 đảo có người ở. Lớn nhất là đảo Cái Bầu rộng 17.212 ha, ở giáp địa phận thị xã Cẩm Phả. Các đảo đều có địa hình núi đá vôi, thường chỉ cao 200 ÷ 300 m so với mặt biển, có nhiều hang động Karst. Cũng giống như tất cả các đảo trong vịnh Bắc Bộ các đảo của huyện Vân Đồn vốn trước kia là các đỉnh núi của phần thềm lục địa, ở vị trí Tây Bắc vịnh Bắc bộ, phần kéo dài của dãy núi Đông Triều. Sau thời kỳ biển tiến, hình thành vịnh Bắc Bộ, các đỉnh núi này còn sót lại, nằm nổi trên mặt biển thành các đảo độc lập thuộc hai vùng của vịnh Bắc Bộ là vịnh Bái Tử Long và vịnh Hạ Long. Các đảo thuộc huyện Vân Đồn chỉ là một phần trong quần đảo Tây Bắc vịnh Bắc Bộ. Các ngọn núi trên các đảo của huyện tiêu biểu có:
• núi Nàng Tiên, ở đảo Trà Bản, trên địa phận xã Bản Sen, cao 450 m;
• núi Vạn Hoa ở đảo Cái Bầu cao 397 m.
Do địa hình là quần đảo chủ yếu là các đảo nhỏ, lại là núi đá vôi, nên trong toàn bộ diện tích tự nhiên của huyện, diện tích đất liền không lớn, chủ yếu là diện tích mặt biển. Huyện đảo Vân Đồn có 68% diện tích đất tự nhiên trên các đảo là rừng và đất rừng. Trên các đảo không có sông ngòi lớn mà chỉ có vài con suối trên những đảo lớn. Người dân địa phương thường gọi các eo biển giữa các đảo với nhau và với đất liền là sông như: sông Voi Lớn nằm giữa đảo Cái Bầu với đất liền, sông Mang ở đảo Quan Lạn. Trên địa bàn huyện có hai hồ nhỏ là hồ Vồng Tre và hồ Mắt Rồng.
Lượng mưa bình quân hàng năm ở đây khoảng trên 2000 mm/năm.
11. Quần đảo Cát Bà

Quần đảo Cát Bà
Quần đảo Cát Bà là quần thể gồm 367 đảo trong đó có đảo Cát Bà ở phía Nam vịnh Hạ Long), ngoài khơi thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh, cách trung tâm thành phố Hải Phòng khoảng 30 km, cách thành phố Hạ Long khoảng 25 km. Về mặt hành chính, quần đảo thuộc huyện đảo Cát Hải, thành phố Hải Phòng.
Vị trí, địa lý
Quần đảo có tọa độ 106°52′- 107°07′Đông, 20°42′- 20°54′độ vĩ Bắc. Diện tích khoảng gần 300 km². Dân số 8.400 người (năm 1996). Các đảo nhỏ khác: hòn Cát Ông, hòn Cát Đuối, hòn Mây, hòn Quai Xanh, hòn Tai Kéo,...


Thị trấn Cát Bà
Cát Bà, còn gọi là đảo Ngọc, là hòn đảo lớn nhất trên tổng số 1.969 đảo trên vịnh Hạ Long.
Cát Bà là một hòn đảo đẹp và thơ mộng, nằm ở độ cao trung bình 70 m so với mực nước biển (dao động trong khoảng 0-331 m). Trên đảo này có thị trấn Cát Bà ở phía đông nam (trông ra vịnh Lan Hạ) và 6 xã: Gia Luận, Hiền Hào, Phù Long, Trân Châu, Việt Hải, Xuân Đám. Cư dân chủ yếu là người Kinh.
Có thể đến Cát Bà bằng hai loại phương tiện giao thông:
• Đi tàu thủy từ Vịnh Hạ Long hoặc từ cầu Bính Hải Phòng;
• Cách khác là đi đường bộ từ Hải Phòng, qua phà cắt ngang cửa sông Bạch Đằng với 2 chuyến phà, bao ồm phà Bính nối Hải Phòng với đảo Cát Hải, và phà Đình Vũ nối đảo Cát Hải với đảo Cát Bà.
Lịch sử


Hoàng hôn trên thị trấn Cát Bà
Tương truyền xưa kia tên đảo là Các Bà, là hậu phương cho Các Ông theo Thánh Gióng đánh giặc Ân. Ở thị trấn Cát Bà hiện nay có đền Các Bà. Các bản đồ hành chính thời Pháp thuộc (như bản đồ năm 1938) còn ghi là Các Bà. Như vậy có lẽ tên gọi Các Bà đã bị đọc trệch thành Cát Bà.
Trước đây đảo Cát Bà thuộc huyện Cát Bà, năm 1977 mới sáp nhập với huyện Cát Hải thành huyện Cát Hải mới. Trước đây đảo thuộc tỉnh Quảng Yên, sau thuộc khu Hồng Quảng, đến năm 1956 mới chuyển về thành phố Hải Phòng.
Thị trấn Cát Bà hiện nay là huyện lị huyện Cát Hải. Trước năm 1945, thị trấn Cát Bà là phố Cát Bà, rồi đại lý Cát Bà thuộc huyện Cát Hải, tỉnh Quảng Yên. Sau năm 1945, trở thành thị xã Cát Bà. Đến năm 1957 thị xã Cát Bà đổi thành thị trấn và huyện Cát Bà mới thành lập.
Khí hậu


Một số đảo trong quần đảo Cát Bà thuộc Vịnh Lan Hạ
Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa chịu ảnh hưởng của đại dương nên các chỉ số trung bình về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa cũng tương đương như các khu vực xung quanh, tuy nhiên có đặc điểm là mùa đông thì ít lạnh hơn và mùa hè thì ít nóng hơn so với đất liền. Cụ thể là:
• Lượng mưa: 1.700-1.800 mm/năm, dao động theo mùa. Mùa mưa chủ yếu là tháng 7, 8.
• Nhiệt độ trung bình: 25-28°C, dao động theo mùa. Về mùa hè có thể lên trên 30°C, về mùa đông trung bình 15-20°C nhưng có thời điểm có thể xuống dưới 10°C (khi có gió mùa đông bắc).
• Độ ẩm trung bình: 85%.
• Dao động của thủy triều: 3,3-3,9 mét.
• Độ mặn nước biển: Từ 0,930% (mùa mưa) đến 3,111% (mùa khô)
Lễ hội
Lễ hội của người dân Cát Bà giống như lễ hội của những người Kinh ở khu vực khác, tuy nhiên có thêm ngày 1 tháng 4 dương lịch là lễ hội khai trương mùa du lịch.
Du lịch
Trên đảo chính Cát Bà có rừng nguyên sinh trên núi đá vôi là một nơi đang được đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái. Phía Đông Nam của đảo có vịnh Lan Hạ, phía Tây Nam có vịnh Cát Gia có một số bãi cát nhỏ nhưng sạch, sóng không lớn thuận tiện cho phát triển du lịch tắm biển, nghỉ dưỡng. Trên biển xuất hiện nhiều núi đá vôi đẹp tương tự vịnh Hạ Long và Bái Tử Long. Ở một số đảo nhỏ, cũng có nhiều bãi tắm đẹp.


Con đường độc đạo chạy ven biển và xuyên qua đảo Cát Bà
• Đường xuyên đảo Cát Bà: dài 27 km, có nhiều đèo dốc quanh co, xuống khoăn, qua áng, men theo mép biển, xuyên qua vườn quốc gia, phong cảnh kỳ thú, non nước hữu tình.
• Vườn quốc gia Cát Bà: có diện tích 15.200 ha, trong đó có 9.000 ha rừng, 5.400 ha biển tạo nên một môi trường sinh thái lý tưởng.
• Động Trung Trang: Nằm cách thị trấn 15 km cạnh đường xuyên đảo, có nhiều nhũ đá thiên nhiên. Động này có thể chứa hàng trăm người.
• Động Hùng Sơn: Cách thị trấn 13 km, trên đường xuyên đảo. Động còn có tên Động Quân Y vì trong Chiến tranh Việt Nam người ta đã xây cả một bệnh viện hàng trăm giường nằm ở trong lòng núi.
• Động Phù Long (Cái Viềng) mới tìm ra, được cho là đẹp hơn động Trung Trang.


Bãi tắm Cát Cò 3
• Các bãi tắm: Cát Cò 1, Cát Cò 2, Cát Dứa, Cát Ông, Cát Trai Gái, Đường Danh v.v... là những bãi tắm nhỏ, đẹp, kín đáo, có nhiều mưa, che nắng, cát trắng mịn, nước biển có độ mặn cao, trong suốt tới đáy. Người ta dự định xây dựng ở đây những "thuỷ cung" để con người có thể trực tiếp quan sát các đàn cá heo, tôm hùm, rùa biển, mực ống, cá mập bơi lượn quanh những cụm san hô đỏ.


Một bãi tắm đẹp trên Đảo Khỉ thuộc quần đảo Cát Bà
Cát Bà với vẻ đẹp nguyên sơ và hùng vĩ, nó được mệnh danh là Hòn Ngọc của Vịnh Bắc Bộ
Khu dự trữ sinh quyển
Quần đảo Cát Bà có rừng mưa nhiệt đới trên đảo đá vôi, rừng ngập mặn, các rặng san hô, thảm rong - cỏ biển, hệ thống hang động, tùng áng, là nơi hội tụ đầy đủ các giá trị bảo tồn đa dạng sinh học, bảo đảm các yêu cầu của khu dự trữ sinh quyển thế giới theo quy định của UNESCO.
Cát Bà đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới ngày 02 tháng 12 năm 2004. Ngày 1 tháng 4 năm 2005 tại đây đã diễn ra lễ đón nhận bằng quyết định của UNESCO và kỷ niệm sự kiện này. Việt Nam hiện có 06 khu dự trữ sinh quyển thế giới được UNESCO công nhận là: Cần Giờ, Cát Tiên, châu thổ sông Hồng, miền Tây Nghệ An, Kiên Giang và quần đảo Cát Bà.
Tổng diện tích khu dự trữ sinh quyển Cát Bà rộng hơn 26.000 ha, với 2 vùng lõi (bảo tồn nghiêm ngặt và không có tác động của con người), 2 vùng đệm (cho phép phát triển kinh tế hạn chế song kết hợp với bảo tồn) và 2 vùng chuyển tiếp (phát triển kinh tế). Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà là vùng hội tụ đầy đủ cả rừng mưa nhiệt đới trên đảo đá vôi, rừng ngập mặn, các rạn san hô, thảm rong và đặc biệt là hệ thống hang động.
Sách đỏ Việt Nam
Gần 60 loài đã được coi là các loài đặc hữu và quý hiếm đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam như các loài động vật: ác là, quạ khoang, voọc đầu vàng, voọc quần đùi trắng và các loài thực vật như chò đãi, kim giao (Podocarpus fleurii), lá khôi (Ardisia spp.), lát hoa (Chukrasia tubularis),dẻ hương, thổ phục linh, trúc đũa, sến mật. Ngoài ra còn 8 loài rong, 7 loài động vật đáy cũng cần được bảo vệ.
12. Đảo Chàng Ngọ



(còn tiếp...)
Bigfish đang offline   Trả lời với trích dẫn
3 thành viên dưới đây đã cảm ơn Bigfish vì bài viết hữu ích này:
CODEN (02-10-2008), gooxmits (02-10-2008), hay la ... (02-10-2008)
Reply

Bookmarks

Công cụ
Kiểu hiển thị

Quy định
Bạn không thể post bài mới.
Bạn không thể post trả lời.
Bạn không thể đính kèm file
Bạn không thể sửa bài

BB code is Bật
SmiliesBật
[IMG]Bật
Mã HTML là Bật



Giờ GMT +7. Bây giờ là 02:04 PM.
Bắt buộc kèm trích dẫn "Nguồn từ Diễn đàn câu cá HFC - http://www.hanoifishing.com/" khi sử dụng nội dung từ website này.


Ad Management by RedTyger

Skin Designed By - Illusion-GFX.com
Powered by vBulletin® Version 3.8.6
Copyright ©2000 - 2014, HFC & Jelsoft Enterprises Ltd.