Tìm về chất vị mặn mà - Diễn đàn câu cá HFC
 
Quay lại   Diễn đàn câu cá HFC > Tư vấn, chia sẻ kiến thức. > Khoa học và cuộc sống

Reply
 
Công cụ Kiểu hiển thị
Cũ 30-10-2007, 11:26 AM   #1
Đặng Hạnh
All Fishing
Points: 245,082, Cấp bậc: 100 Points: 245,082, Cấp bậc: 100 Points: 245,082, Cấp bậc: 100
Activity: 0% Activity: 0% Activity: 0%
 
Ảnh đại diện Đặng Hạnh
 
Ngày gia nhập: Apr 2006
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 3,468
Cảm ơn: 1,474
Được cảm ơn 10,461 lần trong 1,224 bài viết
Mặc định "làm sao để biết mắm ngon"?

Nếu bác nào muốn bổ xung vốn kiến thức thì nên đọc để biết thêm

pdg viết:

[[ Protide tự chuyển hóa thành> Amogrobine, rồi thành> alboumine> Peptol> Polipeptide> Peptide> Acide amine (acide amine mới là thành phẩm) ]]

tui đề nghị nên sữa lại:

cách a):

" Protide tự chuyển hóa thành> Aminoglobine, rồi thành> albumine>> Polipeptides> Peptides> Acide amine (acide amine mới là thành phẩm) "

hay cách b), thông dụng trên thế giới hơn, vì nó là quy ước quốc tế:

" Proteins tự chuyển hóa thành> Aminoglobin, rồi thành> albumin> > Polipeptides> Peptides> Amino Acids (dung dịch Amino Acids mới là thành phẩm)"

Viết thêm về câu hỏi "làm sao để biết mắm ngon"?:

Chuyện rằng:

một thương gia Mỹ đi Vietnam tìm mua nước mắm ngon để bán lại thị trường đặc biệt. Sau nhiều ngày nếm nước mắm, thương gia chọn được một loại vừa ý, mua một 10 foot container, với chỉ dẫn chi tiết về bao bì, đóng gói etc. nhất là "không được dán nhãn hiệu trên chai"; vị thương gia này còn mang theo hành lý ` thùng 12 chai.

Một tháng sau, hàng về đến Mỹ, vị thương gia này cho nhân viên chắt nước mắm vào chai lọ mới, nhỏ hơn đẹp hơn với danh nhãn riêng của hãng mình. Nhưng:

a) những chai mắm gỡi từ Vietnam trong container, chai nào cũng có nhãn hiệu nhà sãn xuất, số điện thoại, kể cả số điện thoại cầm tay của người môi giới viết tay trên nhãn.

b) màu nước mắm có vẽ đậm hơn hàng mang về theo hành lý

c) khi nếm thì có vị măn chát, hoặc ngọt gắt

Vị thương gia này gọi Vietnam, người môi giới không trã lời bất cứ câu hỏi nào thõa đáng; chủ vựa mắm từ chối gặp qua điện thoai etc. và nhờ người môi giới nhắn lại : "tại cái miệng của ổng bây giờ hư rồi, không còn nếm được ngon dỡ nữa" hahahahaha

Luật sư Mỹ được mời đễ kiện bên Vietnam; nhưng sau khi bị yêu cầu đóng trước $20,000 (retainer fees), vị thương gia chỉ còn cách ngồi chưỡi đỗng.

Tình cờ, chúng tôi được biết câu chuyện, nên tình nguyện phân xử cho vui! Vị thương gia trao cho chúng tôi 12 mẫu, đánh số từ 1 đến 12 mà không cho chúng tôi biết 6 mẫu nào thuộc về khâu mắm ngon, 6 mẫu mắm không ngon. Chúng tôi chia ra 2 nhóm sau 2 ngày làm việc NHƯNG KHÔNG NẾM (sợ hư miệng như mà chủ vựa nói! hahahaha)

Nhóm mẫu không ngon lại được khám phá ra gồm 4 loại khác nhau, "đủ mùi đủ vị".

Muốn biết thêm chi tiết, xin đọc hồi sau thì sẽ rõ.

pham da giang

Bạn Jane Smith 11, hỏi: “Làm sao để biết mắm ngon”?

Trả lời:

1) Nước mắm được đánh giá bằng hai yếu tố: Cảm quan và chất lượng.
- Cảm quan gồm: Hương, Vị, Màu sắc và Trạng thái (sẽ trình bầy ở Bài 13) .

Được gọi là nước mắm ngon thì chất lượng phải hội đủ:
- Chất lượng gồm: Đạm toàn phần 25grN/lít.
- Đạm amine không dưới 11,5 grN/lít.
(NH4243) không quá 6 grN/lit

Bác nào muốn biết công thức hóa học (NH4243) là gì thì vào link dưới để đọc tiếp các bài phân tích:
http://dactrung.net/phorum/tm.aspx?m...1&key=&#263150

Bài đã được sửa bởi Đặng Hạnh; 30-10-2007 vào lúc 11:29 AM
Đặng Hạnh đang offline   Trả lời với trích dẫn
Cũ 03-11-2007, 08:50 AM   #2
Pecheur
Cần Thủ
Points: 24,266, Cấp bậc: 94 Points: 24,266, Cấp bậc: 94 Points: 24,266, Cấp bậc: 94
Activity: 0% Activity: 0% Activity: 0%
 
Ngày gia nhập: Dec 2005
Bài viết: 584
Cảm ơn: 41
Được cảm ơn 949 lần trong 190 bài viết
Mặc định Tìm về chất vị mặn mà

Xin trích 1 đoạn lời mở đầu cho cuốn sách mà bài viết “Tìm về chất vị mặn mà” này là một những bài biên khảo đó:

Câu truyện liên quan đến 1 món ăn của dân ta đời Hồng Bàng.chuyện ăn uống nọ được chép trong cuốn:” Lĩnh Nam trích quái” sách xưa viết :” Dĩ cầm thú ngư hà vi hàm”,sách có nhiều người dịch.
Ở trong nam, ông LHM dịch rằng:” lấy cầm thú, cá tôm làm nước mắm”.Đọc xong,tần ngần ngẫm nghĩ : giống cầm nào,giống thú nào được người xưa chọn làm nước mắm cà ?
Trên xứ ta các loại cầm thường thấy là con gà, con sáo, con sẻ, con cò... Từng có nước mắm se sẻ chăng? Có nước mắm sáo sậu chăng? Các loại thú thường gặp quanh mình là con lợn ,con chó, con mèo...Từng có nước mắm cầy chăng? Nước mắm lợn chăng? Chao ôi,ước gì người đời nay được nếm thử một vài giọt trong số các loại nước mắm hiếm lạ như thế thì quý hóa biết là chừng nào! Trên đường tiến hóa bốn nghìn năm dằng dặc, dân tộc ta đã bỏ mất những món nước mắm sáo sậu, cầy tơ ở chặng đường nào? trong hoàn cảnh nào? người đọc tiếc ngẩn ngơ.
Ở ngoài bắc, có bản dịch của ông ĐGK, dịch rằng:” Lấy cầm, thú, cá, ba ba làm mắm”
Đến đây, lại tiếc nữa, tiếc cái mắm ba ba ngày nay cũng không dễ tìm ra. Cái mắm độc đáo ấy rồi ông LTK dịch sang tiếng Pháp là : salaison de tortue.
Ôi, chỉ trong khoảng một câu bảy chữ mà tổ tiên ta xưa kia, kẻ bắt phải con tôm, người tóm được con ba ba, kẻ thì làm đủ thứ mắm lạ, người lại chế ra nước mắm.Rộn ràng,tấp nập,và ...rắc rối quá chừng.
Một hôm khác,hồi đầu năm Mùi, nhân nằm đọc cái truyện trên một tờ báo xuân,chợt gặp chữ lạ,đâm bối rối:” trên đường về, chị Xuân ghé tiệm mua nửa ký thịt ba rọi và ba trăm gam gan heo.Chị bảo để “khìa “ ăn vài bữa.Du không hiểu “khìa” là gì,nhưng không hỏi.” Du không hiểu, tôi cũng không hiểu.Du là sinh viên du học,ra khỏi nước từ thuở bé nên không rành rẽ từ ngữ liên quan đến chuyện bếp núc,điều ấy dễ thông cảm.Còn tôi,tôi đã sống gần trọn 1 cuộc đời trên quê hương mà vẫn ngẩn ngơ không biết chị Xuân nói gì.Tiếng nói của ta nhiều thật.May mà chị Xuân sau đó, đã tự ý giải thích : “Là một loại thịt chiên ấy mà, được ướp với tỏi,muối,đường,nhưng quan trọng nhất là phải có ngũ vị hương”.
Nghe xong, yên dạ được một lúc. Rồi chồm lên thắc mắc,ao ước gặp chị Xuân để được soi sáng thêm:Khìa là 1 loại thịt chiên,vậy thịt chiên có mấy loại?loại thịt chiên với món gia vị quan trọng nhất là ngũ vị hương thì gọi là khìa,vậy thịt chiên mà không có vị quan trọng nhất ấy thì thì thành ra món gì? Khía chăng?Khia chăng? Dù gì đi nữa,vẫn chắc chắn 1 điều là thịt chiên có họ hàng sum sê,phong phú,nhiều loại,mình chỉ nghe có một loại khìa,thiếu sót biết bao!
Chỉ một cái chiên đã rắc rối thế. Nghĩ thêm về bao nhiêu cái khác,càng giật mình.Cái khác đây, ý tôi chỉ muốn nói về các lối chế biến món ăn mặn bằng lửa của dân tộc ta.Món ăn có món mặn, có món ngọt, món chua. Chế biến có cách dùng lửa, có cách không dùng đến lửa: hoặc để sống ,hoặc làm dưa, làm mắm v.v...Nguyên một cách dùng lửa để chế móm mặn, lẩm mhẩm một lát thấy đã bộn bề : nấu, nướng, kho, chiên, hầm, hâm, ninh, hấp, rán, rang, chưng, luộc, trần, trụng, lùi, trui, phi, xào, xáo, quay, um, tráng(chả), đổ(bánh bèo), rim, tiềm, đồ, xôi, đun, hun, nhúng, khử, đốt, chấy, thắng, đúc(bánh), bung, sao, hui (thịt), hon, khìa, thưng, thuôn(thịt), om(cà), tần (với thuốc bắc), ám(cá),v.v...Về chuyện bếp núc, tôi chẳng qua cũng lạng quạng như nhân vật tên Du,vậy mà cũng bập bẹ được ngót năm chục tiếng.Và đó chỉ là kể những tiếng đơn thôi. Mỗi tiếng đơn có thể kẹp theo một vài tiếng khác để chỉ thị một cách thức chế biến phức tạp hơn.Một tiếng “nấu” có thể ghép thành: nấu rục,nấu nhừ,nấu mẳn, nấu ngót,v.v...Cứ thế chị Xuân tha hồ tuôn ra bao nhiêu là cái lạ lùng,bất ngờ nữa, nói sao cho xiết.
Trong số những tiếng đơn nọ,có những tiếng nghe chừng gần gũi,thế mà nghĩa rất cách xa: hâm(nước) không dính líu gì đến hầm(xương).Đun(nước) không liên hệ với hun(khói).Cũng như thế, om không phải là um, rán không phải là rang, xào không hẳn là xáo,v.v...Sự phân biệt quả là cặn kẽ, chi li. Chừng ấy tiếng chen chúc nhau mà không trùng hợp nhau.
Và, điều này tưởng có chỗ lý thú ,chừng ấy tiếng hầu hết là tiếng thuần Việt.thiết nghĩ
ngay ông LNT cũng khó lòng tìm được cái gốc Hoa của những tiếng như luộc, như lùi...
Tiếng gọi đã không có gốc Hoa ,thì các món ăn,cách chế biến mang tên gọi ấy cũng không có gốc Hoa. Những ông Nhâm Diên,ông Tích Quang chịu khó dạy dân ta nào chử Hán,nào đạo thánh ,dạy phép cày ruộng ,dạy cách cưới vợ gả chồng,v.v...Nhưng về chuyện bếp núc thì các ông ấy không phải bận tâm: ta kho kiểu ta,ta luộc kiểu ta,ta khìa kiểu ta...Ta hòan toàn độc lập ,tự do.Trong các lãnh vực văn học, triết học hành chánh ,kỹ thuật, nông nghiệp..ta phải mượn vô số tiếng của người,kho ngôn ngữ ta lổn nhổn đầy tiếng Hán Việt.Nhưng khi vào bếp thì ta ngẩng cao đầu ,không cần học theo ai, không mượn tiếng nói của ai cả :
Cái cò, cái vạc, cái nông,
Ba cái cùng béo, vặt lông cái nào?
Vặt lông cái vạc cho tao
Hành, răm, mắm, muối bỏ vào mà thuôn...
Cái cò, cái vạc,củ hành,lá răm ,v.v...các thực liệu quen thuộc quanh ta,. Ta xử lý thông thạo, miệng ta nhanh nhảu,tay ta thoăn thoắt,ta thuôn rụp rụp ,ngon ơ. Các quan thái thú nọ thứ sử kia chỉ có đừng nghệt người ra nhìn mà thôi,còn dạy dỗ gì được nữa.Giọt nước mắm với lá rau răm,các quan Tàu biết sao thấu. Vẻ vang thay người nội trợ tiền bối của chúng ta,tự buổi ban đầu xa lắc xa lơ của lịch sử đã nghênh ngang tung hoành đầy tự tín, giữa làn khói thơm ngào ngạt trong gian nhà bếp.
Nhân cái chỗ người múa đũa trong bếp thì xài thuần tiếng Việt thoải mái,còn kẻ sĩ cầm bút chép sách lại vướng vào chữ của ngoại nhân mà sinh lúng túng,bèn nghĩ cái khổ sở của ông LHM thật oan uổng.
Không phải vậy sao?đâu phải bỗng không mà ông LHM sản xuất ra nước mắm cầm, nước mắm thú ? Đó chẳng qua là do 1 chử “hàm” trong sách trích quái của Trần thế Pháp.Tuyệt đại đa số người Trung Hoa xưa nay không ăn mắm ,cũng không ăn nước mắm, ngoại trừ ở một số địa phương miền nam. Không làm ra và không ăn món ấy,e họ không tự dưng bày đặt ra vài tiếng,chỉ để dành sẵn, chờ ông Trần mượn dùng.Cho nên cái chữ Hán mà ông Trần đã dùng, nó không chỉ thị đích xác một món ăn nào của người Việt cả.
Bắt được nhiều cá,muốn để dành ăn lâu dài,dân ta đem cá ra làm mắm và làm nước mắm, còn người Hoa thì họ làm ra cá mặn ,cá khô .Cá mặn, tức hàm ngư (ta vẫn phát âm theo những người chệt bán cá : hàm dỉ) .Cá khô ,tôm khô, ta cũng có làm; những món đó đều không phải là mắm,càng không phải là nước mắm.
Người Hoa không có một số món ăn giống ta, Trần thế Pháp dùng tiếng Hoa gọi món ta nên...khó dịch.Sau này người Pháp cũng có những món ăn không giống món ta chút nào: saumure không phải là nước mắm, salaison không phải là mắm.Về cách chế biến, về mùi vị, những món đó khác nhau xa. Cho nên dùng chữ như các học giả Trần thế Pháp,Lê thành Khôi, thì nêu được một gần gũi đại khái giữa món ăn 2 xứ để khách văn chương biết qua với nhau thôi; chứ muốn cho người đọc tường tận đích xác thực chất món định nói là gì thì không tiện đâu.
Nói rằng dân ta có kho ngôn ngữ phong phú về mặt ẩm thực ,dân ta có phong tục ăn uống riêng biệt chứng tỏ cá tính dân tộc mạnh mẽ, nghìn năm đô hộ giặc Tàu, trăm năm đô hộ giặc Tây không lay chuyển nổi,v.v...nói thế nghe gần như luận điệu : Dân tộc ta rất tinh rất tài,dân tộc ta có thiên tư đặc biệt,Tóm lại dân tộc ta là... nhất. Nói thế khó nghe quá lắm.Bấy lâu nay ta đã nhất thông minh,nhất anh hùng,nhất sáng suốt rồi.Giờ lại thêm nhất ăn nhất uống nữa ,e quá quắt chăng?
Ta khoe phong phú,lỡ người Tàu có kẻ ngứa mồm nói ồm ồm lên tám vạn món ăn khắp xứ họ thì sao? Lỡ có người Nga háo thắng nào đó nghiêm khắc cảnh cáo bất cứ ai manh tâm truất phế địa vị số một của họ trong bảng xếp hạng các dân tộc nhiều món ăn nhất thế giới thì sao?lỡ có ông Tây bà đầm trưng ra một sưu tập phó mát mấy trăm thứ loạn cả mắt thì sao? Ối, ở các khu phố tàu trên đất Mỹ này, ta bước vào một tiệm ăn xoàng xĩnh nào người chệt hầu bàn cũng có thể vất xuống trước mặt ta một tấm thực đơn trên dưới vài trăm món ăn bình dân, xem mệt cả mắt. Vả lại, bảo rằng ta giỏi nhất tức thị ngầm cái ý hỗn xược là có những dân tộc kém may mắn chỉ giỏi cỡ bậc nhì thôi,phải không ?Trời đất! làm gì có thể?Trên thế gian làm gì có một dân tộc tự xếp mình vào hạng nhì……
Ông LVL là bác sĩ y khoa,nhưng cái cơ thể dưới trăm ký lô của con người không đủ thỏa mãn óc tò mò của ông đâu.phanh phui lục phủ ngũ tạng con người xong , ông ngẩng lên trời đặt ra hàng trăm thắc mắc,cúi xuống đất bắt gặp chừng nghìn lẻ một vấn đề.Hôm nay cầm chiếc chân gà suy nghĩ về khoa bói toán đông phương, ông bất chợt nhận thấy Hoa Việt gần gũi thế mà ở Việt Nam con gà có nhiều liên hệ đến bói toán cúng quải trong khi người Hoa xưa nay tuyệt không có ý tìm hỏi về vận mệnh mình qua cái giò gà .Hôm khác, nhân nhớ lại hình ảnh những người ngồi viết chữ bằng thẻ tre ở vỉa hè Saigon, ông liền tra khảo suốt 120 kiểu thư pháp Trung Hoa, ông ráo riết rượt đuổi lịch sử thư pháp chạy ngược ba nghìn rưỡi năm về trước để truy nã kỳ được gốc tích của một loại tạp thể thư.Hôm khác nữa .. và hôm khác nữa nhân giọt cà cuống mà ông bàn về các món chiêu tình hương,và phản kích dâm của sâu bọ.Lại khi khác nữa ông băn khoăn cái nhóm 11,995 người Việt lạc loài ở huyện Gianh Bình bên tỉnh Quảng Tây .Số di dân ấy ra đi khỏi xứ sở đã bốn thế kỷ mà vẫn giữ tục ăn trầu ,còn ăn nước mắm ,còn chơi đàn bầu,còn viết được chữ nôm! Sao lạ vậy? mười hai nghìn ngày nay cách đây bốn thế kỷ bất quá là chừng năm, sáu nghìn người chứ mấy. Một nhân số ít oi như thế,lạc vào giữa bể người Trung Hoa mênh mông mà vẫn bền lòng giữ phong tục riêng,không lạ lùng sao ?Họ đã thiết tha với dân tộc như thế vì lý do gì? kinh tế hay chính trị ?khiến họ phải kéo nhau chạy qua Tàu vào năm 1513 dưới triều vua Lê tương Dực? Ông băn khoăn và ông băn khoăn…………………………
VP






TÌM VỀ CHẤT VỊ MẶN MÀ

Mẹ tôi có kể một câu chuyện ,tôi xin tạm dùng nó để mở đầu bài viết này:
Vào đầu thế kỷ 20 ,tạm gọi là năm một ngàn chín trăm lâu lắm,một làng kia ngoài Bắc mở hội mừng xuân có cuộc thi nếm cỗ.Cỗ bàn dọn đủ thứ sơn hào hải vị,hễ ai nhận định món nào ngon nhất thì trúng giải. Theo thể lệ,mỗi thí sinh vào từng người một để nếm thức ăn.Một tiếng trống đánh lên là bị loại,còn ba tiếng gióng liên tục là trúng giải.
Có người đi vào chọn ngay bát nấu đầy bào ngư vi cá thì đã nghe thùng một tiếng đuổi ra.Có kẻ hăm hở nếm một món kỳ trân thật đắt giá chưa kịp nuốt cũng nghe thùng một tiếng, đành lủi thủi bước ra.
Cỗ bàn dọn ra gần trọn một ngày mà thiên hạ chỉ nghe tiếng trống gióng tiếng một và chứng kiến những bộ mặt tiu nghỉu. Đến xế chiều,cuộc thi sắp vãn,bỗng có một ông lão đến xin nếm cỗ.Cụ ở cách làng này rất xa, đi từ sáng sớm bây giờ mới đến.Cụ chống gậy trúc,râu tóc bạc phơ,chậm rãi bước quanh bàn cỗ,lâu lâu dừng lại nhìn chăm chú khắp lượt…Cuối cùng cụ dừng hẳn lại,khoan thai cầm đôi đũa lên,khuấy nhè nhẹ…vào một chén nước mắm nhỏ nằm khiêm tốn ở giữa bàn.Cách nếm của cụ cũng khác người.Cụ hơi thè lưỡi rồi để đầu đũa rỏ một giọt nước mắm vào giữa lòng lưỡi.Cụ chép miệng ,mắt lim dim một hồi lâu ,rồi khẽ gật gù : “ Cái này mới đáng gọi là ngon nhất.Cả bàn cỗ này không dùng đến nó thì kể như bỏ đi.”
Trống đổ liên hồi,báo tin cuộc thi đã có người trúng giải.
Câu chuyện chỉ vỏn vẹn có thế.Hơn nửa thế kỷ trôi qua,nó nằm lọt kín vào sâu tâm tư tôi như một viên sỏi nhỏ đóng rong rêu ở dưới đáy ao.Rồi trót hơn ba mươi năm lưu lạc xứ người,nhiều món ngon vật lạ của thiên hạ tôi đã từng nếm qua…Nói rằng ngon thì cũng kể là ngon, nhưng hình như thiếu vắng một cái gì mà ngôn ngữ Việt gọi là …mặn mà đối với khẩu vị của tôi.
Ngon là ngon gượng kẻo là
Ai tri âm đó mặn mà với ai
Cái mặn mà này phải chăng là chất nước mắm mà dân ta tự ngàn xưa đã dùng như một món nòng cốt để chấm hoặc để nêm nấu hấu hết các món ăn thuần túy dân tộc.Bây giờ tôi mới chợt hiểu :
Tim ta riêng thiếu hình ai
Không gian hoang vắng u hoài bơ vơ
(Un seul être vous manque,et tout est dépeuplé)
Lamartine
Nhìn vào bản đồ thế giới để sưu tầm thói tục ẩm thực của các dân tộc,người ta phải liệt dân Việt Nam vào hàng những dân thích ăn thực phẩm để lên men (fermented foods) như mắm,dưa chua,chao,nem, tré, v,v…Khoa học hiện đại đã để tâm nghiên cứu sâu rộng và chính xác về một số hiện tượng lên men như men rượu,lên men bột bánh mì,lên men sữa để làm phó mát (cheese),lên men lactic acid để làm sauerkraut và lên men giấm.
Nhưng còn nhiều thứ lên men khác chưa được biết đến hoặc chỉ biết một cách mơ hồ,phiến diện mà lên men mắm là một.
Vấn đề dùng những vi thể (micro organisms) để chế biến thực phẩm đặc biệt theo phương cách cổ truyền không được các khoa học gia chú tâm nghiên cứu .Phải đợi đến thập niên 1950,nhiều thực phẩm lên men của dân Á châu mới lọt vào “mắt xanh “của các vị da trắng tóc vàng Âu Mỹ.Năm 1956, khi học giả Hesseltine soạn thảo tập chú giải (glossary) đầu tiên về các thức ăn lên men trên thế giới, thiên hạ ở Âu Mỹ mới té ngữa ra rằng ngành vi sinh vật áp dụng (applied microbiology) còn có lắm điều hay.
Thế rồi một số cuộc hội thảo quốc tế được tổ chức ở Nhật Bản,Thái Lan, Đài Loan, Nam Dương, Hoà Lan về thực phẩm lên men của các xứ Á châu.
Phong trào di dân và tị nạn của người các xứ này lại tạo thêm cơ hội du nhập nhiều món ăn lạ vào xã hội Âu Mỹ.Món tương đậu nành dần dà chinh phục khẩu vị lớp người ăn rau cỏ ở đây.Trên quầy các chợ thực phẩm Tây phương đã thấy bày bán vài món Á đông như đậu phụ,shoyu,nước tương ….Còn ở các tiệm thực phẩm Á châu, khỏi nói ai cũng biết nước mắm và mắm được cung cấp đều đặn cho khách hàng.Dân Tây phương dần dà bỏ bớt tinh thần cực đoan vị chủng (ethno centrism) cố hữu để có thái độ chấp nhận tương đối về văn hoá (cultural relativism) trong việc chú ý đến phong cách ẩm thực của các sắc dân khác.Họ công nhận tính chất xác thực và thực tiễn của nhiều món ăn lên men Á đông về phương diện an toàn vệ sinh ,giá trị dinh dưỡng và vốn sản xuất ít.Tuy nhiên,sự nghiên cứu cho đến nay vẫn chỉ giới hạn ở các thức ăn lên men từ ngũ cốc và các loại rau.Có rất nhiều loại vi cơ thể được khám phá như:
Paecilomyces,Aspergillus,Cladosporium,Fusarium,v,v … trong cục men mà
người Tàu dùng để làm loại Meiminchin hay trong các thức tương chao,rau muối chua.Nhưng tấm màn kỳ bí vẫn còn phủ trên những món ăn lên men từ các sinh vật thủy sản,nói nôm na là các loại mắm.
Nhìn tổng quát trên thế giới ,người ta thấy từ ngàn xưa đã có nhiều dân tộc ăn những món ăn để thối (rooted foods) như dân La Mã cổ hoặc nhiều bộ lạc ở Phi châu và Nam Mỹ.Dân Pháp trước vẫn thích các món thịt cầm thú săn được để ươn vài ngày rồi mới ăn mà họ cho là mềm và ngon hơn thịt tươi.Tiếng Pháp gọi cách để thịt ươn ấy là faisander,Anh nghữ là tainting.
Tuy nhiên,xứng đáng gọi là mắm phải là những thứ thủy sản ướp muối lâu ngày rồi để cho thiên nhiên tác dụng một cách kỳ bí bằng sự lên men.Nếu chấm trên bản đồ,ta thấy các xứ làm mắm ở dọc bờ biển và qui tụ nhiều ở viễn đông như Việt Nam,Cao Miên,Thái Lan, Mã Lai,Miến Điện,Nhật Bản, Đại Hàn. Đi về phía tây xích đạo, ta cũng thấy mắm ở vài vùng thuộc Ấn độ,Hồi quốc hay vùng thượng Ai Cập (Upper Egypt).Dân Tàu vùng Hoa nam ,Hải Nam,Phúc Kiến, Quảng Đông cũng ăn nước mắm và mắm.
Như vậy Việt Nam không phải là xứ duy nhất khoái ăn mắm và nước mắm như nhiều người lầm tưởng.Tuy nhiên ,cũng thời là nước mắm hay mắm, mỗi xứ lại có cách chế biến riêng biệt và mùi vị do đó chắc chắn không giống nhau .Các xứ khác làm mắm phần lớn bằng cá,nhất là cá cơm (anchovie) nhưng cũng dùng cả tôm,tép,mực,các loại sò biển,v,v…
Họ còn giống Việt Nam ở chỗ lấy ruột và trứng cá làm mắm như món Shiokara của Nhật,Thia-pla của Thái. Nhiều xứ cũng phân biệt loại mắm mặn tức là mắm làm bằng thủy sản ở biển và mắm đồng làm bằng thủy sản nước ngọt. Phi luật tân có loại mắm Buro là mắm đồng làm bằng cá nước ngọt và mẻ (cơm lên men thổ ngữ là Angkak) Thái Lan có mắm Plachao làm bằng cá trê trộn muối và mẻ (Thái gọi là Khao mak) Loại mắm đồng phổ thông nhất của Thái Lan là Plara ,cách làm là xếp nhiều lớp cá nước ngọt với nhiều lớp muối trong ghè,gài chặt bằng nan tre; sau khi chắt nước cốt ra,mắm sẽ trộn với thính (roasted rice) như Việt Nam .Một điểm cần chú ý, ở vài nước,họ cũng có loại mắm chua như Việt Nam có mắm tôm chua vậy.
Ở Phi luật Tân,mắm Buong Dalag làm bằng cá,thính và mẻ (angkak) để lên men chua (lactic acid bacteriel fermentation) với cá vi thể như leuconostoc mesenteroides,pedio coccus cerevisiae lacto bacillus plantarum.
Về nước mắm.Thái Lan có Nam-pla,Miến Điện có Ngam-pya-ye,Nam Dương có Ketjap ikan,Nhật có Shottsuru,Phi có Patis. Nhìn chung ,ta thấy mắm như trăm hoa rộ nở phục vụ khẩu vị của người Viễn Đông .Dân xứ nào biết làm mắm trước tiên ? Phải chăng là những dân tộc có nguồn gốc Mã lai như thuyết của nhà văn Bình Nguyên Lộc? Tôi xin nhường thẩm quyền trả lời vấn đề này cho các nhà nhân chủng học.
Xét về bình diện địa lý của Việt Nam , ta có thể suy đoán mắm được chế biến do một khám phá ngẫu nhiên của những con người đầu tiên sống dọc duyên hải dưới khí trời viêm nhiệt.Phương cách làm mằm có lẽ được khám phá cùng lúc với việc lấy muối từ nước biển.Cá tôm đánh được nhiều ăn không hết,nếu không có muối ướp làm sao để được lâu hoặc để cung cấp cho những miền ở sâu trong nội địa vào thời kỳ phương tiện chuyên chở còn thô sơ vào eo hẹp.Tôi còn nhớ thuở trước 1945 ,mỗi kỳ ghe cá biển về cửa Thuận An ,dân bán cá gánh cá chạy te te mười hai cây số đường bộ đến chợ Đông Ba ở Huế để bán cho kịp tươi .Nghĩ lại thật là thương ! Riêng về cá nục thì họ luộc sơ rồi để trong những vỉ tre nên không phải chạy nhanh như bán cá biển tươi.
Việt nam có hình thể chữ S với hơn 2000 cs duyên hải ngó ra biển Thái Bình Dương như một cái ban công,Bắc có vịnh Hạ Long, tây nam có vịnh Thái Lan chưa kể nhiều vụng biển và đảo nhỏ,nhiều dòng hải lưu .Chính vì hoàn cảnh địa lý thuận tiện này, dân ta tự ngàn xưa đã biết làm các thứ mắm mặn như mắm cá bẹ,cá sủ ,cá vược,v,v…
Sông Mekong dài ,chảy qua nhiều quốc gia,lúc đến miền nam Việt Nam chia ra thành hai nhánh Tiền và Hậu giang cùng rất nhiều nhánh nhỏ khác như chín con rồng.Theo nước Cửu Long giang,nhiều loại cá tôm nước ngọt nương mực nước lên xuống sinh sôi nảy nở trên những cánh đồng và sông rạch.Hoàn cảnh địa lý này giải thích tại sao dân Việt miền Nam có nhiều loại mắm đồng hơn dân Việt miền Bắc.Về mắm đồng ,các loại cá thường dùng là lóc,rô,sặt ,trê,v,v…Ruột của các loại cá đồng làm mắm rất ngon ,chính những thứ rong rêu,sinh vật hay vi khuẩn trong ruột cá đem lại hương vị cho loại mắm này.Mắm lóc xé nhỏ trộn với đu đủ xanh và thính thành mắm Thái. Mắm sặt kho với thịt hay cá linh lấy nước ăn với các loại rau sống gọi là mắm và rau.Tại các tỉnh miền Tây hay Trà Vinh,Bạc Liêu,nơi có nhiều người Việt gốc Miên cư ngụ (gọi là dân Khờme Krom đối với dân Khờme Luôn ở Campuchia) có mắm đàng thổ ăn cũng đặc biệt qua món bún nước lèo.
Về mắm mặn làm bằng cá biển, thông thường nhất có mắm nêm làm bằng cá cơm,mắm thu chà làm bằng cá thu,chà nát như bột màu vàng tươi,chấm thịt ba rọi xắt lát rất ngon. mắm phệt là mắm nước lọc bỏ lấy xác,lấy nước nước xào chung với tôm khô,thịt heo quyết nhuyễn và sả.
Mắm còn được làm bằng tôm ,tép,sò…Huế có mắm tôm chua và ruốc.Con ruốc (miền bắc gọi là con khuyết) là một loại tép biển nhỏ,mình dẹp và trắng .Mằm ruốc thường để dùng nêm thức ăn,Bún bò Huế nêm ruốc mới có mùi v ịngon độc đáo.Vũng Tàu có mắm ruốc bà giáo Thảo nổi tiếng,chấm với măng le ăn ngon lắm (măng le được sách nho phiên âm thành la y duẩn).Tại các vùng khác của nước ta hẳn còn nhiều món mắm mà tôi chưa được biết,xin quý độc giả bổ túc.
Cạnh nước ta ,Campuchia được nhắc nhở với mắm Pra-hoc( (hay bồ hóc) làm bằng nhiều loại cá nhỏ ở vùng Biển Hồ,Lào có mắm ngoé.
Về nước mắm dân Việt dùng phổ thông nhất là nước mắm cá cơm hoặc nhiều cá nhỏ khác.Miền nam có nước mắm cá linh ,hai địa phương nổi tiếng về nước mắm của miền nam là Phú Quốc và Phan Thiết. về phương diện hoá học,nước mắm là một thành phần thủy phân từ chất PROTEIN (protein hydrolysate) nên rất phong phú về chất đạm và muối,có màu thay đổi từ vàng hổ phách đến nâu đậm.Làm nước mắm ,người ta thường xếp cá và muối từng lớp với tỷ lệ một cá,một rưỡi muối rồi để ngấm trong thời gian từ 5 tháng đến 18 tháng.Nước mắm từ thùng chảy ra từng giọt, đợt đầu là nước mắm ngon nhất,gọi là nước mắm nhỉ,sau đó người ta trộn thêm muối vào bã cá nhiều lần để làm nước mắm nhì, nước mắm ba.Nước mắm ngon để lắng đáy chai sẽ đọng nhiều lớp lợn cợn gọi là óc trâu.
Trước đây nước mắm được đựng trong tĩn,một thứ hũ đất nhỏ bụng phình ,miệng và đáy túm lại.Sau này người ta dùng thùng nhựa thay tĩn.

Các miền nước lợ cũng sản xuất nhiều thứ mắm đặc biệt.Chẳng hạn như mắm rươi của miền bắc.Rươi là một loại hải trùng sống ở những ruộng gần biển,hình dạng giống như con rết nhỏ.Hàng năm vào khoảng tháng chín tháng mười,khi thủy triều dâng,những con rươi chui ra khỏi mặt ruộng ( gọi là nứt lỗ rươi) để sống cuộc đời tình ái.Những cánh đồng gần biển lúc ấy đầy rươi .Rươi có thể ăn tươi như rươi xào,niễng,chả rươi,rươi hấp…hoặc có thể làm mắm.Trong Nam,miệt Cà Mau có ba khía,một thứ còng nhỏ,cũng dùng làm mắm, đến mùa, ba khía bò lên bờ rạch nhiều vô kể,người bắt ba khía phải đi một loại xuồng đặc biệt có gắn một tấm bửng tre bên mạn xuồng,khi xuồng cặp vô bờ rạch,tấm bửng gác lên sườn đất rồi người ta dùng bừa để cào ba khía vô lòng xuồng.sau ghe cào là một chiếc ghe lớn có các thùng nước muối nấu sẵn ,ba khía sẽ được trút vô làm mắm tại chỗ.
Châu Đốc và Vĩnh Long là những nơi sản xuất nhiều mắm đồng nhất của miền nam .Theo Đại Nam Nhất Thống chí phần lục tỉnh Nam Việt ,dân Vĩnh Long “tánh người ưa chịu nắng, ưng ăn đồ mặn, ăn mặc khí dụng có văn hoa mà cũng có chất phác”
“Ưng ăn đồ mặn” rõ ràng là thích ăn mắm rồi vì Vĩnh Long có nhiều mắm đồng mà cuốn sách trên ghi chép trong phần thổ sản là “ dã hàm”.
Đúng ra ưng ăn đồ mặn không phải riêng gì dân Vĩnh Long mà có thể nói toàn thể dân Việt đều có sở thích đó.Bữa cơm căn bản Việt Nam thường gồm các món mặn ,canh ,xào.Món mặn khô là nòng cốt để “đưa cơm”,món canh là chất lỏng để lua thức ăn và nuốt,món xào với chất mỡ dâu để tăng sự thích khẩu và dinh dưỡng. Ăn mặn dễ khát nước,canh lỏng sẽ chế lại.Các thứ rau xào cũng làm bớt khát,Chữ “kho” trong Việt ngữ có thể bắt nguồn từ chữ “khô” hay “cô lại” (?)
Sau một thời gian nơi đất khách,người Việt chúng ta thấy mình quả có khác thiên hạ về cái điểm “ thích ăn mặn” Miếng hamburger của Mỹ thật lạt lẽo đối với gai lưỡi và đóc họng của dân Giao Chỉ.Vào thời lập quốc tổ tiên ta theo cha là Lạc Long Quân xuống đồng bằng và duyên hải sinh sống nên mắm và nước mắm đã trở thành các gia vị chính giúp ta “nêm “ ngon lành các món ăn khác. Ăn cái gì ta cũng cần “mặn miệng” mới ngon.Cái mặn đó không phải đơn thuần do chất muối thô sơ mà phải do chất cá tôm trộn muối làm ra.Do đó ta có từ đôi ”mắm muối” và “ăn mặn” để đối nghịch với “ăn chay” là chỉ ăn rau cỏ, ngũ cốc và muối hoặc tương chao.Tuy ăn chay cũng bỏ muối nhưng người ta cứ gọi là “ăn lạt” vì thiếu cái phong phú chất vị của mắm! Ta cũng có thể nói không ngoa rằng những từ “mặn mà” ,“mặn mòi”,”mặn nồng” của Việt ngữ đã nói lên cái chiều sâu quyến rũ kỳ bí ngoài mức độ chất muối biển đơn thuần gây ra.
Một thương tóc bỏ đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Ca dao
Tuổi vừa đôi tám,dung nhan mặn mà
Lục vân Tiên
Một điều đáng lưu ý về cách ăn nước mắm của từng vùng ở Việt Nam.”Mặn” một cô gái nào đó có nghĩa là mê thích cô gái đó lắm.
Về phương diện tiến hóa,mọi sinh vật sơ đẳng trên thế giới đều bắt nguồn từ môi trường nước biển và cơ thể các sinh vật là một thùng nước biển di động chưa những tế bào tổ chức từng cơ cấu.Chính vì vậy,mọi thứ thực phẩm đều phải có muối làm căn bản cho sự dinh dưỡng,và vị “mặn” là nòng cốt cho vị giác. Đối với con người , ăn uống là một vấn đề văn hóa.Yếu tố môi sinh chỉ là một phần của quyết định tại sao con người chọn thực phẩm sinh sống.Nhiều nhóm người sống cùng một môi trường với cùng nguồn thực phẩm sẵn có nhưng lại chế biến các món ăn khác nhau. Điều đó chỉ có thể giải nghĩa qua vấn đề văn hoá,nghĩa là tập hợp của những kiến thức tin tưởng ,giá trị và thói tục mà mỗi nhóm người đã nhận định ,học hỏi và chia sẽ cùng truyền đạt qua nhiều thế hệ.
Trở về chất vị “mặn ”cuả dân Việt,ta có thể nói rằng chữ “mặn”trong văn hóa ngôn ngữ đã bao hàm ý tưởng nặng về “mắm muối” vì tự ngàn xưa,vị giác của chúng ta đã kết nghĩa bén duyên với mắm muối rôi.Ngay cả người ngoại quốc Âu tây,sau thời gian ở Việt Nam ,từng quen mui “chịu” mùi nước mắm rồi,họ đâm ra khoái húp nước mắm và không còn chê hôi như trước.Trong kho tàng ca dao,tôi chưa thấy có lối tán gái lung khởi nào “mặn mòi” và thấm thía bằng câu :
Nước mắm ngon dầm con cá liệt
Em có chồng nói thiệt anh hay
Một điều đáng lưu ý về cách ăn nước mắm của từng vùng ở Việt Nam.Phần lớn người Bắc chính cống thích ăn nước mắm nguyên chất,không pha chế. Nước mắm đựng trong cái vịt,rót chút ít vào cái bát nhỏ để chấm món ăn, Đôi khi họ rắc thêm tiêu,bỏ thêm ớt,vắt tí chanh ,hay cho thêm vài giọt cà cuống tùy theo món ăn. Họ cho rắng ăn như vậy mới thưởng thức cái chất vị đứng đắn của nước mắm,cũng giống như uống rượu whisky nên uống “sec”, không pha soda. Vào miền Trung,ta thấy nước mắm bắt đầu hơi pha loãng,có thêm đường dầm tỏi nhất là dùng để chấm bánh bột lọc,bánh bèo,bánh nậm.Vô hẳn trong Nam ,nước mắm rõ ràng chuyển thể bằng cách pha loãng với nhiều nước,chế thêm giấm,chanh,bỏ đường. ớt,tỏi và đựng trong một cái tô lớn.Nước mắm pha này dùng để chấm đẫm các thức ăn hay để dầm các thứ cá chiên.
Cách ăn nước mắm nào cũng có nét đặc thù và công dụng chủ đích của nó. Ăn theo kiểu Bắc có vẻ “ăn mặn” hơn vì không pha chế,kỳ thực là ăn dè một cách cảnh vẻ.Món thật mặn là món chủ yếu để đưa cơm.Trái lại , ăn theo kiểu miền Nam,nước mắm được pha bớt mặn để có thể ăn nhiều và thích hợp vói các món ăn kèm nhiều rau ráng. Đồng ruộng miền Nam phì nhiêu, thời trước đất rộng ,người thưa,rau cỏ xum xê,chim trời cá nước nên thức ăn Nam khác hẳn thức ăn Bắc là vì vậy.
Về phân chất khoa học của nước mắm và mắm,hiện nay còn quá ítcác công trình khảo cứu vi sinh vật học (microbiology) trên các thức ăn lên men từ thủy sản. Thư tịch Anh ngữ hầu như không có gì,về Pháp ngữ,tôi không biết viện Pasteur Paris có tài liệu nào về các món này hay không? Burkholder và nhóm cộng tác (1965) cho rằng sự biến hóa từ tôm cá sống ra mắm là do công trình phối hợp của những diếu tố thiên nhiên (natural enzymes) trong mô tế bào tôm cá tác dụng gây ra một sự tan rã tự phân giải (autolytic action) cộng với với tác dụng lên men của vi khuẩn (microbial fermentation). Về vi khuẩn thì có sự tập hợp các vi khuẩn tự nhiên trong tôm cá,các vi khuẩn ưa muối diêm ( hiếu diêm halophylic) và cả các vi khuẩn ngoại lai từ tay người làm ,dụng cụ thiết bị,vv…Tất cả cùng tác dụng để gây sự lên men.
Trong quá trình lên men mắm,những diếu tố và vi khuẩn “lành” này chiếm ưu thế nên đánh bạivà loại các vi khuẩn “ác” gây bệnh ra.Các vi khuẩn “ác” thường không chịu được nồng độ PH thấp và nồng độ mặn cao nên không thể sinh sôi nảy nở được.Các vi khuẩn “lành”của mắm rất chịu muối nên dễ sinh sản.Chử salubrious của Anh ngữ có nghĩa là lành mạnh do chữ salt là muối mà ra.Chính vì vậy, ăn mắm lại lành cho ruột,không sợ trúng độc do những vi khuẩn độc hại gây ra các chứng tiêu chảy hay chứng botulism nguy hiểm.Xin quý bạn để ý rằng mùi mắm chính là mùi tự nhiên của chất amino acid được phân hoá từ chất Proteincủa tôm cá qua sự lên men ,chứ không phải mùi thối rữa (putrefaction) chứa nhiều hơi SH2 từ các thây thú vật.Các chất amino acid rất cần cho cấu trúc của Protein trong cơ thể.Sự lên men mắm không hoàn toàn làm tăng phẩm chất của các chất này,nhưng có vài loại amino acid trở nên dễ hấp thụ hơn qua sự lên men.Có nhiều sự lên men vi khuẩn làm tăng tính cách dinh dưỡng của thực phẩm .Nhiều vi khuẩn “lành” qua sự lên men,đem lại nguồn sinh tố B12 và nhiều chất amino acid chứa sulfur. Cái món mắm ruột tuy nặng mùi nhưng tốt về dinh dưỡng vì trong ruột cá có nhiều thứ vi khuẩn sinh sống tự nhiên,phân hóa các thứ rong rêu mà cá đã nuốt để nhả ra các sinh tố cần thiết.Dân Eskimo ở bắc cực tuy chỉ ăn thịt,rất ít ăn rau thế mà họ không bị thiếu sinh tố thiên nhiên nhờ họ ăn ruột các con hải cẩu trong có nhiều rong rêu đang tiêu hóa.Theo bác sĩ Lý thanh Đáng,nguyên viện trưởng viện Pasteur Saigon (1975) cái mùi vị đặc biệt của mỗi loại nước mắm địa phương như Mũi Né, Phú Quốc khác nhau là do ruột các con cá sinh sống tại nơi đó.
Vì không có kết quả phân chất của các thứ mắm Việt Nam,tôi xin tạm trưng ra thành phần hoá học của một thứ mắm nam Dương tương tự như mắm Việt Nam .Dân Nam Dương thích ăn mắm mà họ gọi là Trassi, mắm cá là Trasssi ikan,mắm tôm là Trassi udang.
Đại khái mắm Nam Dương chưa : độ ẩm từ 30- 50% chất protein thô 20-40% carbohydrate 3-5% chất mỡ thô 2-5% về protein , đó là một hỗn hợp của chất phân hoá từ protein ra như peptides,amino acids,,riêng về mắm tôm có hơn 138 hoá phẩmđể bay hơi gồm hydro carbons,alcohols, carbonyls,acid béo,estens và các phức chất sulfur,do đó mắm dễ dậy mùi.Mắm, đối với những người thích nó là một món ngon vì vị của các amino acids tác dụng trên gai lưỡi và mùi của các phức chất kích thích các tiêm mao ở mũi. Mắm chính là nguồn thực phẩm chứa nhiều protein ngoài thịt.Nhờ nó các dân tộc thiếu thịt thoả mãn được nhu cầu protein này.Nhu cầu về calcium thường được các dân Âu tây thoả mãn nhờ uống sữa, đối với dân Á đông nhu cầu đó thoả mãn qua việc ăn mắm và nhờ ánh mặt trời nhiệt đới.Duy có điểm nồng lượng muối trong mắm quá cao,ăn mặn quá sẽ bị tăng huyết áp.
Về phương diện kinh tế,các khoa học gia đang nghiên cứu ,thực hiện nhiều bước tiến trong việc sản xuất các loại thực phẩm lên men như nước tương để cung ứng cho nhu cầu tiêu thụ ngà một cao.Riêng về nước mắm,dân tiêu thụ Mỹ còn ớn chưa dám dùng,nhưng đối với các sắc dân da vàng thì vẫn tiêu thụ mạnh.
Tại một vài đại học của Mỹ ,ngành nghiên cứu thực phẩm lên men của các sắc dân không phải gốc Âu tây đang phát triển mạnh vì họ tiên liệu các sắc dân này sẽ gia tăng ghê gớm trên đất Mỹ,mở đường cho một thị trường rộng lớn.Vài đại học muốn dùng những sinh viên từ các xứ sở có nhiều kinh nghiệm dùng các thức ăn lên men cổ truyền để việc nghiên cứu thêm chắc chắn. vậy các bạn trẻ sinh viên Việt Nam còn đợi gì mà không tìm hiểu về các thói tục ăn uống của dân ta,thế nào cũng có chỗ ứng dụng.
Ăn mắm hãy ngắm về sau.
LVL

Tài liệu tham khảo:
-The Cultural Feast,an introduction to food and society(1985)
-Indigenous Fermented Food of Non-Western Origin (1986)
-Consuming Passions-The Anthropoly of Eating (1980)

Bài đã được sửa bởi Đặng Hạnh; 03-11-2007 vào lúc 09:42 AM Lý do: mã màu
Pecheur đang offline   Trả lời với trích dẫn
2 thành viên dưới đây đã cảm ơn Pecheur vì bài viết hữu ích này:
Damakinos (01-06-2011), hochoi (01-06-2011)
Cũ 01-06-2011, 04:04 PM   #3
demsaoroi88
Newbie
Points: 805, Cấp bậc: 15 Points: 805, Cấp bậc: 15 Points: 805, Cấp bậc: 15
Activity: 0% Activity: 0% Activity: 0%
 
Ngày gia nhập: May 2010
Tuổi: 30
Bài viết: 6
Cảm ơn: 4
Được cảm ơn 8 lần trong 4 bài viết
Mặc định Re: Tìm về chất vị mặn mà

Tìm hiểu những thông tin thật hay và thú vị nè, chúc mọi người có nhiều niềm vui trong công việc

----------------------------------

Tin tuc
Tin Giao duc
demsaoroi88 đang offline   Trả lời với trích dẫn
Những thành viên sau đã cảm ơn demsaoroi88 vì bài viết hữu ích này:
killgame (04-09-2015)
Reply

Bookmarks

Công cụ
Kiểu hiển thị

Quy định
Bạn không thể post bài mới.
Bạn không thể post trả lời.
Bạn không thể đính kèm file
Bạn không thể sửa bài

BB code is Bật
SmiliesBật
[IMG]Bật
Mã HTML là Bật


Chủ đề tương tự
Chủ đề Người tạo chủ đề Chuyên mục Trả lời Bài cuối
Cá tôm và chất Malachite green Pecheur Môi trường và nguồn lợi thủy hải sản 0 26-07-2007 05:04 AM
Khám Phá Mới Về Gạo Lức Đặng Hạnh Ẩm thực 0 28-06-2007 01:12 PM
Thức ăn giàu đạm Đặng Hạnh Ẩm thực 0 13-06-2007 07:41 AM
Món Ngon từ cá Tráp Biển Đặng Hạnh Ẩm thực 6 22-08-2006 04:29 PM


Giờ GMT +7. Bây giờ là 12:29 AM.
Bắt buộc kèm trích dẫn "Nguồn từ Diễn đàn câu cá HFC - http://www.hanoifishing.com/" khi sử dụng nội dung từ website này.


Ad Management by RedTyger

Skin Designed By - Kogsand
Powered by vBulletin® Version 3.8.6
Copyright ©2000 - 2018, HFC & Jelsoft Enterprises Ltd.