Đặng Hạnh
22-10-2007, 03:11 PM
Báo Phú Thọ Điện Tử (http://www.baophutho.org.vn/baophutho/vn/website/du-lich-le-hoi-am-thuc/101179F8A6F/2005/5/10311543305/)
Tìm về cội nguồn, nơi phát tích của dân tộc Việt Nam, nơi có mộ Tổ thiêng liêng của cả dân tộc, nơi khởi đầu của các tín ngưỡng dân gian và cũng là nơi có các trò diễn mang đậm nét của các cư dân nông nghiệp. Các trò diễn cũng như các tín ngưỡng đều bắt nguồn từ cuộc sống lao động. Con người luôn cầu cho mưa nắng thuận hòa, cuộc sống ấm no, cầu cho sự sinh sôi phát triển của giống nòi. Từ những ước lệ của con người, mọi vật dụng đều trở thành biểu trưng cho ước mơ trong cuộc sống.
Đất Tổ - nơi có nhiều di tích lịch sử. Gắn liền với các di tích ấy là nơi diễn ra những ghi thức mang tính dân gian như thờ trời, lửa, cầu nước (được mùa), cầu đinh... Đặc biệt, những nơi thờ có liên quan đến tín ngưỡng cầu đinh rất đa dạng và nhiều nơi. ở đất Tổ có tới 36 địa điểm và được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như thờ Linga, cướp kén, cướp tằm, cướp tơ, tắt đèn… Ngày xưa ở miền Kim Đức (xã Kim Đức huyện Phù Ninh) chôn một hòn đá hình trụ dài chừng 0,80m, dưới to trên nhỏ dần. Thường những người hiếm hoi đến cầu lễ cầu tự sờ tay lên đầu hòn đá mong được có con cái. Nhiều người làm vậy để đến mức hòn đá nhẵn như mài. Bên cạnh kiểu thờ Linga ở Kim Đức, một số nơi khác còn tổ chức trò diễn ngay tại đình làng và chủ yếu vào mùa xuân. Đình làng Hữu Bổ Thượng (xã Kinh Kệ huyện Lâm Thao) vào ngày 15 tháng giêng trong khi hát xoan có tục mò cá cũng là một tiết mục đặc sắc của hát xoan. Riêng ở Hữu Bổ, trước khi chuyển sang tiết mục múa này có một khoảnh khắc “tắt đèn” để mọi người cùng vui “mò cá” và khi đó đào và kép họ xoan vẫn hát.
“Mò đấy rồi lại mò đây
Mò đấy chẳng thấy lại đây ta mò”
Đình làng Dị Nậu (xã Dị Nậu huyện Tam Nông) lại có hội cướp kén cầu đinh vào ngày 7 tháng giêng. Chuẩn bị lễ hội, làng làm 36 chiếc dương vật (chày kềnh) bằng gỗ xoan hoặc gỗ vông dài chừng gần một gang tay, 36 chiếc âm vật (mo đài hay kén) bằng mo cau buộc vào hai gây tre. Ngày hội dựng thờ các vật này trong cung đình làng. Ngày mùng 7 tháng giêng ông chủ tế vác 2 “cây kén” đó ra cho dân làng cướp để cầu may. Người xưa cho rằng cướp được vật nào sẽ đẻ con nấy.
Hình thức tổ chức lễ hội cũng như tục cầu hèm diễn ra ở mỗi địa phương có những nét rất riêng, chẳng hạn làng Quang Húc (xã Quang Húc - Tam Nông) có tiệc bánh dày, từ mùng 9 đến 12 tháng giêng, ở miếu Bà có tiệc cầu bánh dày. Bánh dày cắt hình trái trám, một chiếc bọc lá cây xanh, một chiếc bọc màu trắng, cử hai nữ cầm bánh múa trên thượng ban quanh tượng thánh bà, múa xong vứt chiếc bánh lá trắng xuống sông Mỹ Giang (sông Bứa), còn chiếc bánh lá xanh vứt ra sông cho dân làng cướp lấy may.
Trò chơi bắt trạch là một trò chơi dân gian còn phổ biến ở một số nơi như: Tử Đà, Tiên Du (Phù Ninh), xã Thạch Trúc (Lập Thạch). Đặc biệt xã Tứ Trưng (Vĩnh Tường) vào ngày 6 tháng giêng có trò chơi bắt trạch rất vui. Người ta để 7 cái chum ở trước sân đình, trong đó có một ít nước và mỗi chum thả một con trạch. Từng đôi trai gái xin vào bắt trạch cầu con. Trước khi vào bắt phải làm lễ thánh rồi từng đôi mắt nhìn nhau, tay múa đi đến chum. Một tay ôm ngang lưng nhau, sờ vào nhau còn mỗi người một tay thò vào chum bắt trạch. Các quan viên chức sắc, các bô lão trong làng ngồi trong đại bái xem và bắt bẻ những đôi nào không đúng động tác, còn ngoài sân dân làng vừa đứng xem vừa trống chiêng hò reo động viên, vui vẻ. Nhộn nhịp nhất là khi đôi nào bắt được trạch giơ lên trình các cụ coi như nhận lộc may của thánh. ở vùng Thu Cúc - Thanh Sơn cũng vào dịp mùa xuân, dân tộc Mường quanh vùng đến xã Thu Cúc (xưa gọi là Mường Cúc) rủ nhau đến hang ngựa để hát ví với nhau, đưa nhau vào hang tự tình vui vẻ và gọi là “ti giống mái”.
Như vậy đến quê hương đất Tổ chúng ta tìm về cội nguồn không chỉ bằng những trang sử, những hiện vật khảo cổ, mà chúng ta còn có thể tìm hiểu về cuộc sống văn hóa tổ tiên qua các tài liệu tín ngưỡng dân gian còn được lưu truyền trong dân gian - đó là các trò diễn, các lễ hội của các địa phương. Đây là kho tàng giá trị văn hóa “phi vật thể” quý giá mà ông cha ta để lại.
Tìm về cội nguồn, nơi phát tích của dân tộc Việt Nam, nơi có mộ Tổ thiêng liêng của cả dân tộc, nơi khởi đầu của các tín ngưỡng dân gian và cũng là nơi có các trò diễn mang đậm nét của các cư dân nông nghiệp. Các trò diễn cũng như các tín ngưỡng đều bắt nguồn từ cuộc sống lao động. Con người luôn cầu cho mưa nắng thuận hòa, cuộc sống ấm no, cầu cho sự sinh sôi phát triển của giống nòi. Từ những ước lệ của con người, mọi vật dụng đều trở thành biểu trưng cho ước mơ trong cuộc sống.
Đất Tổ - nơi có nhiều di tích lịch sử. Gắn liền với các di tích ấy là nơi diễn ra những ghi thức mang tính dân gian như thờ trời, lửa, cầu nước (được mùa), cầu đinh... Đặc biệt, những nơi thờ có liên quan đến tín ngưỡng cầu đinh rất đa dạng và nhiều nơi. ở đất Tổ có tới 36 địa điểm và được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như thờ Linga, cướp kén, cướp tằm, cướp tơ, tắt đèn… Ngày xưa ở miền Kim Đức (xã Kim Đức huyện Phù Ninh) chôn một hòn đá hình trụ dài chừng 0,80m, dưới to trên nhỏ dần. Thường những người hiếm hoi đến cầu lễ cầu tự sờ tay lên đầu hòn đá mong được có con cái. Nhiều người làm vậy để đến mức hòn đá nhẵn như mài. Bên cạnh kiểu thờ Linga ở Kim Đức, một số nơi khác còn tổ chức trò diễn ngay tại đình làng và chủ yếu vào mùa xuân. Đình làng Hữu Bổ Thượng (xã Kinh Kệ huyện Lâm Thao) vào ngày 15 tháng giêng trong khi hát xoan có tục mò cá cũng là một tiết mục đặc sắc của hát xoan. Riêng ở Hữu Bổ, trước khi chuyển sang tiết mục múa này có một khoảnh khắc “tắt đèn” để mọi người cùng vui “mò cá” và khi đó đào và kép họ xoan vẫn hát.
“Mò đấy rồi lại mò đây
Mò đấy chẳng thấy lại đây ta mò”
Đình làng Dị Nậu (xã Dị Nậu huyện Tam Nông) lại có hội cướp kén cầu đinh vào ngày 7 tháng giêng. Chuẩn bị lễ hội, làng làm 36 chiếc dương vật (chày kềnh) bằng gỗ xoan hoặc gỗ vông dài chừng gần một gang tay, 36 chiếc âm vật (mo đài hay kén) bằng mo cau buộc vào hai gây tre. Ngày hội dựng thờ các vật này trong cung đình làng. Ngày mùng 7 tháng giêng ông chủ tế vác 2 “cây kén” đó ra cho dân làng cướp để cầu may. Người xưa cho rằng cướp được vật nào sẽ đẻ con nấy.
Hình thức tổ chức lễ hội cũng như tục cầu hèm diễn ra ở mỗi địa phương có những nét rất riêng, chẳng hạn làng Quang Húc (xã Quang Húc - Tam Nông) có tiệc bánh dày, từ mùng 9 đến 12 tháng giêng, ở miếu Bà có tiệc cầu bánh dày. Bánh dày cắt hình trái trám, một chiếc bọc lá cây xanh, một chiếc bọc màu trắng, cử hai nữ cầm bánh múa trên thượng ban quanh tượng thánh bà, múa xong vứt chiếc bánh lá trắng xuống sông Mỹ Giang (sông Bứa), còn chiếc bánh lá xanh vứt ra sông cho dân làng cướp lấy may.
Trò chơi bắt trạch là một trò chơi dân gian còn phổ biến ở một số nơi như: Tử Đà, Tiên Du (Phù Ninh), xã Thạch Trúc (Lập Thạch). Đặc biệt xã Tứ Trưng (Vĩnh Tường) vào ngày 6 tháng giêng có trò chơi bắt trạch rất vui. Người ta để 7 cái chum ở trước sân đình, trong đó có một ít nước và mỗi chum thả một con trạch. Từng đôi trai gái xin vào bắt trạch cầu con. Trước khi vào bắt phải làm lễ thánh rồi từng đôi mắt nhìn nhau, tay múa đi đến chum. Một tay ôm ngang lưng nhau, sờ vào nhau còn mỗi người một tay thò vào chum bắt trạch. Các quan viên chức sắc, các bô lão trong làng ngồi trong đại bái xem và bắt bẻ những đôi nào không đúng động tác, còn ngoài sân dân làng vừa đứng xem vừa trống chiêng hò reo động viên, vui vẻ. Nhộn nhịp nhất là khi đôi nào bắt được trạch giơ lên trình các cụ coi như nhận lộc may của thánh. ở vùng Thu Cúc - Thanh Sơn cũng vào dịp mùa xuân, dân tộc Mường quanh vùng đến xã Thu Cúc (xưa gọi là Mường Cúc) rủ nhau đến hang ngựa để hát ví với nhau, đưa nhau vào hang tự tình vui vẻ và gọi là “ti giống mái”.
Như vậy đến quê hương đất Tổ chúng ta tìm về cội nguồn không chỉ bằng những trang sử, những hiện vật khảo cổ, mà chúng ta còn có thể tìm hiểu về cuộc sống văn hóa tổ tiên qua các tài liệu tín ngưỡng dân gian còn được lưu truyền trong dân gian - đó là các trò diễn, các lễ hội của các địa phương. Đây là kho tàng giá trị văn hóa “phi vật thể” quý giá mà ông cha ta để lại.