NST1
21-10-2007, 03:45 PM
Tản văn của Xuân Mai
Phía trước làng tôi không chỉ có những cánh đồng mà còn có một dòng sông. Đó là sông Cửa Ngòi. Sông nhỏ thôi nhưng cứ nhìn vào Cửa Ngòi chúng tôi đã nhận ra sắc màu bốn mùa đi qua trên con sông của quê hương. Đó là mùa hạ, chỉ sau một cơn mưa đầu nguồn, dòng sông đã cuồn cuộn nước đỏ ngầu. Mùa thu, dòng sông thu mình lại, nước trong lững lờ trôi. Mùa đông, nước cạn tới đáy, trơ ra những cát và sỏi. Còn mùa xuân thì hai bên bờ nở đầy hoa cỏ dại và lòng sông thì mơ màng ẩn hiện trong màn sương màu trắng đục...
Tóm lại, mùa nào Cửa Ngòi cũng tặng chúng tôi một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp, rất đáng yêu. Nhưng với tôi, tôi yêu nhất, thích nhất vẫn là mùa hạ và mùa thu.
Về mùa hạ, sau những cơn mưa như trời đổ cây nước, sông Cửa Ngòi vạm vỡ, cường tráng hẳn ra. Nước tràn ra tới tận chân đê và sủi bọt, cuộn chảy cuốn theo bao nhiêu là cành cây, lá mục từ thượng nguồn trôi về. Những ngày ấy, làng tôi sôi động hẳn lên. Người ta rủ nhau đi cất vó, bảo nhau ra bờ sông vợt rác làm củi suốt ngày đêm. Bọn trẻ con chúng tôi, dưới nắng hè chói chang, mình trần như nhộng, thi nhau bơi lội, lặn ngụp thỏa thích mà không bị bố mẹ quát mắng.
Sau mấy ngày mưa lũ, con nước cạn dần để lại những vết ngấn phù sa đỏ quạch trên những thân cây. Sông Cửa Ngòi trở lên trầm tĩnh, nước lờ đờ chảy, có đoạn dường như dừng lại dưới những bụi tre, lùm cây um tùm râm mát. Nơi đây chính là chỗ mà dòng sông tặng quà cho chúng tôi. Ấy là tôi cứ tưởng tượng ra như thế hay là nhân cách hóa ra như thế, còn sự thật đấy chính là nơi đánh lờ cá rô rất “lý tưởng” của bọn trẻ con chúng tôi.
Tôi học cách đánh lờ từ bố tôi, bố tôi lại học được từ ông nội tôi. Gọi là học vì phải ngồi nghe “ông già” hướng dẫn qua loa vài lần chứ thực ra đánh lờ cá rô cũng đơn giản thôi. Vấn đề là “anh” phải biết đan lấy một cái lờ với yêu cầu là nan phải vót nhỏ, đều và nhẵn, tua lờ phải thoáng, thóc ngâm làm mồi phải đủ mùi hấp dẫn cá. Khi đánh lờ trước hết phải tìm nơi có bóng mát, thỉnh thoảng thấy cá rô móm (hay là nhao lên đớp không khí). Sau đó moi lấy một cái hố, xoa thật nhẵn, rồi bỏ mồi xuống, úp lờ lên, nhớ là phải có “cửa” cho cá chui vào ăn. Các công đoạn đó khi đã làm xong, ta ung dung lên bờ ngồi chơi đọc sách, đánh đáo, đánh bi... tùy thích. Ở dưới sông, những chàng cá rô trú nắng hám ăn thấy mồi là rủ nhau vào đánh chén. Được ăn, các anh chàng khoái chí quẫy đuôi nhao lên. Nào ngờ, vào cái giờ khắc ấy, với những động tác phởn phơ ấy, chúng đã lao tọt qua tua để rồi bị nhốt hẳn trong cái lờ chật hẹp. Khoảng nửa giờ sau, chúng tôi lội xuống sông nhấc lên, chắc chắn ít nhất cũng có năm bảy chú cá rô cụ, mình vàng, thoạt nhìn đã thấy béo ngậy.
Cá rô đánh hết vảy rồi đem nướng hoặc rán đều rất thơm ngon. Thịt cá rô nạc và rất lành, phụ nữ sau khi đẻ mà được ăn cơm với cá rô thì không lo gì mắc bệnh hậu sản.
Mùa thu, Cửa Ngòi không có nắng vàng, mây trắng tặng chúng tôi nhưng sông lại tặng cả làng bao nhiêu là ốc, hến... Bạn hãy tưởng tượng xem: Khi những tiếng sấm cùng những cơn mưa mùa hạ trốn đi tận đâu, bầu trời cao hơn, xanh hơn và khí trời bắt đầu se se lạnh... Đấy là bắt đầu mùa mò hến, bắt cua của quê tôi trên dòng sông.
Lúc này sông chỉ còn sâu đến ngực, có đoạn chỉ quá thắt lưng chúng tôi một chút. Mức nước ấy, thời tiết ấy là rất thuận cho công việc của nhà nông đi kiếm thêm đồng mua rau dưa, mắm muối...
Vào mùa mò hến, trừ những hôm bận công việc gì khác còn hầu như hôm nào tôi cũng vui vẻ xách giỏ, xách rổ đi mò hến cùng bè bạn. Mặc dù bố mẹ tôi không bảo, tôi vẫn đi. Tôi thích thế bởi mò hến có cái vui, cái thú vị mà ai chưa một lần mò hến sẽ không bao giờ hiểu nổi.
Xin bạn hãy hình dung: Trước cửa nhà bạn có một dòng sông, nhỏ thôi. Bạn hãy cùng bạn bè của mình rủ nhau chạy ra bờ sông, rồi cởi phăng quần áo vứt ở trên bờ hoặc cuốn tròn lại đội trên đầu, rồi lại hô “hai, ba” nhảy tùm xuống sông. Sau một chập lặn ngụp, bơi lội thỏa thích, đứa nào đứa ấy dìm mình trong nước, chỉ hở mỗi cái đầu để thở. Nét mặt đứa nào cũng đăm đăm, cũng hướng cả xuống nước để chăm chú theo dõi hai bàn tay cùng hai chân đang dò dẫm, sờ soạng dưới đáy sông.
Lòng sông qua mùa lũ mịn màng và mát lẹm phù sa là môi trường tuyệt vời cho trai, hến, chẫm chục... cư trú. Những loại động vật nhuyễn thể này khi gặp bàn tay, bàn chân chúng tôi sờ tới, chúng chỉ khép miệng, lăn tròn như viên sỏi, như hòn đá chờ cho người ta nhặt lấy đúc vào giỏ chứ không biết bơi, không biết chạy như tôm, cá. Bởi vậy mò hến quá dễ, miễn là thích mò.
Gọi là mò hến nhưng chúng tôi không chỉ lấy hến. Gặp trai, chẫm chục, cua, ốc... chúng tôi bắt tuốt, nhét tất cả vào giỏ, đợi tới lúc đem về đổ ra sân, nhặt mỗi loại ra một món rồi mới cho mẹ đem ra chợ bán, hoặc là đi bán rong.
Hến rẻ mà ăn lại ngon, lại bổ nên hến cũng rất dễ bán. Người mua hến đem về ngâm trong nước ấm cho nó nhả hết bùn, đoạn rửa thật sạch, đem luộc. Phi hành mỡ với cà chua thật thơm rồi đổ hến đã nhặt hết vỏ vào. Đun đảo đều tay, nêm mắm muối vừa phải, sau đó mới cho nước luộc hến. Nước sôi, rắc thêm hành, răm, thì là thái nhỏ là ta được một nồi canh hến ngon tuyệt.
Hôm mới rồi, tôi nghe mấy anh thanh niên công tác ở ngoài thị xã về làng chơi nói chuyện với nhau: Ếch, ốc, cua, lươn... những món ăn dân dã ở nhà quê trước kia giờ trở thành đặc sản của các nhà hàng sang trọng ngoài thành phố. Họ bảo, cứ đà này, biết đâu món canh hến của làng Ao Gỗ quê mình lại không chiếm một vị trí độc tôn trong các bữa ăn gọi là đại tiệc!
Nghe anh em tiên đoán với nhau thế, vui chuyện, tôi gật gù bảo: “Nếu được vậy thì có phúc cho làng ta một lần nữa đấy các anh ạ”. Nói xong, nhìn nét mặt họ, tôi biết là anh em mới lớn chưa mấy ai hiểu hết điều mình định nói, tôi liền nói thêm: “Năm bốn mươi lăm, cái năm đói khủng khiếp đã làm chết bao nhiêu là người, nhưng làng ta, trong đó có tôi và ông bà nội, ngoại của các anh không chết là nhờ có dòng sông Cửa Ngòi cứu chúng tôi sống bằng những con cua, con hến. Đó là một lần. Còn lần này, nếu như cua, ốc, chẫm chục... mà được lên ngôi trong các bữa tiệc như người ta bảo là mang đậm bản sắc ẩm thực văn hóa dân tộc thì làng ta sẽ bớt nghèo đi đến nơi rồi”.
Nghe tôi nói thế, ai nấy đều cùng cười và cùng nhìn ra phía dòng sông. Đang vào mùa thu, sông Cửa Ngòi sáng loáng lên dưới cái nắng hoe vàng. Hình như ở ngoài ấy, bọn trẻ con của làng sớm nay được nghỉ học, chúng nó đang rủ nhau đi mò hến như chúng tôi cách đây bốn, năm chục năm về trước?
Vào trang nguồn (http://www.baohatay.com.vn/news_detail.asp?newsid=71558&CatID=68)
Phía trước làng tôi không chỉ có những cánh đồng mà còn có một dòng sông. Đó là sông Cửa Ngòi. Sông nhỏ thôi nhưng cứ nhìn vào Cửa Ngòi chúng tôi đã nhận ra sắc màu bốn mùa đi qua trên con sông của quê hương. Đó là mùa hạ, chỉ sau một cơn mưa đầu nguồn, dòng sông đã cuồn cuộn nước đỏ ngầu. Mùa thu, dòng sông thu mình lại, nước trong lững lờ trôi. Mùa đông, nước cạn tới đáy, trơ ra những cát và sỏi. Còn mùa xuân thì hai bên bờ nở đầy hoa cỏ dại và lòng sông thì mơ màng ẩn hiện trong màn sương màu trắng đục...
Tóm lại, mùa nào Cửa Ngòi cũng tặng chúng tôi một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp, rất đáng yêu. Nhưng với tôi, tôi yêu nhất, thích nhất vẫn là mùa hạ và mùa thu.
Về mùa hạ, sau những cơn mưa như trời đổ cây nước, sông Cửa Ngòi vạm vỡ, cường tráng hẳn ra. Nước tràn ra tới tận chân đê và sủi bọt, cuộn chảy cuốn theo bao nhiêu là cành cây, lá mục từ thượng nguồn trôi về. Những ngày ấy, làng tôi sôi động hẳn lên. Người ta rủ nhau đi cất vó, bảo nhau ra bờ sông vợt rác làm củi suốt ngày đêm. Bọn trẻ con chúng tôi, dưới nắng hè chói chang, mình trần như nhộng, thi nhau bơi lội, lặn ngụp thỏa thích mà không bị bố mẹ quát mắng.
Sau mấy ngày mưa lũ, con nước cạn dần để lại những vết ngấn phù sa đỏ quạch trên những thân cây. Sông Cửa Ngòi trở lên trầm tĩnh, nước lờ đờ chảy, có đoạn dường như dừng lại dưới những bụi tre, lùm cây um tùm râm mát. Nơi đây chính là chỗ mà dòng sông tặng quà cho chúng tôi. Ấy là tôi cứ tưởng tượng ra như thế hay là nhân cách hóa ra như thế, còn sự thật đấy chính là nơi đánh lờ cá rô rất “lý tưởng” của bọn trẻ con chúng tôi.
Tôi học cách đánh lờ từ bố tôi, bố tôi lại học được từ ông nội tôi. Gọi là học vì phải ngồi nghe “ông già” hướng dẫn qua loa vài lần chứ thực ra đánh lờ cá rô cũng đơn giản thôi. Vấn đề là “anh” phải biết đan lấy một cái lờ với yêu cầu là nan phải vót nhỏ, đều và nhẵn, tua lờ phải thoáng, thóc ngâm làm mồi phải đủ mùi hấp dẫn cá. Khi đánh lờ trước hết phải tìm nơi có bóng mát, thỉnh thoảng thấy cá rô móm (hay là nhao lên đớp không khí). Sau đó moi lấy một cái hố, xoa thật nhẵn, rồi bỏ mồi xuống, úp lờ lên, nhớ là phải có “cửa” cho cá chui vào ăn. Các công đoạn đó khi đã làm xong, ta ung dung lên bờ ngồi chơi đọc sách, đánh đáo, đánh bi... tùy thích. Ở dưới sông, những chàng cá rô trú nắng hám ăn thấy mồi là rủ nhau vào đánh chén. Được ăn, các anh chàng khoái chí quẫy đuôi nhao lên. Nào ngờ, vào cái giờ khắc ấy, với những động tác phởn phơ ấy, chúng đã lao tọt qua tua để rồi bị nhốt hẳn trong cái lờ chật hẹp. Khoảng nửa giờ sau, chúng tôi lội xuống sông nhấc lên, chắc chắn ít nhất cũng có năm bảy chú cá rô cụ, mình vàng, thoạt nhìn đã thấy béo ngậy.
Cá rô đánh hết vảy rồi đem nướng hoặc rán đều rất thơm ngon. Thịt cá rô nạc và rất lành, phụ nữ sau khi đẻ mà được ăn cơm với cá rô thì không lo gì mắc bệnh hậu sản.
Mùa thu, Cửa Ngòi không có nắng vàng, mây trắng tặng chúng tôi nhưng sông lại tặng cả làng bao nhiêu là ốc, hến... Bạn hãy tưởng tượng xem: Khi những tiếng sấm cùng những cơn mưa mùa hạ trốn đi tận đâu, bầu trời cao hơn, xanh hơn và khí trời bắt đầu se se lạnh... Đấy là bắt đầu mùa mò hến, bắt cua của quê tôi trên dòng sông.
Lúc này sông chỉ còn sâu đến ngực, có đoạn chỉ quá thắt lưng chúng tôi một chút. Mức nước ấy, thời tiết ấy là rất thuận cho công việc của nhà nông đi kiếm thêm đồng mua rau dưa, mắm muối...
Vào mùa mò hến, trừ những hôm bận công việc gì khác còn hầu như hôm nào tôi cũng vui vẻ xách giỏ, xách rổ đi mò hến cùng bè bạn. Mặc dù bố mẹ tôi không bảo, tôi vẫn đi. Tôi thích thế bởi mò hến có cái vui, cái thú vị mà ai chưa một lần mò hến sẽ không bao giờ hiểu nổi.
Xin bạn hãy hình dung: Trước cửa nhà bạn có một dòng sông, nhỏ thôi. Bạn hãy cùng bạn bè của mình rủ nhau chạy ra bờ sông, rồi cởi phăng quần áo vứt ở trên bờ hoặc cuốn tròn lại đội trên đầu, rồi lại hô “hai, ba” nhảy tùm xuống sông. Sau một chập lặn ngụp, bơi lội thỏa thích, đứa nào đứa ấy dìm mình trong nước, chỉ hở mỗi cái đầu để thở. Nét mặt đứa nào cũng đăm đăm, cũng hướng cả xuống nước để chăm chú theo dõi hai bàn tay cùng hai chân đang dò dẫm, sờ soạng dưới đáy sông.
Lòng sông qua mùa lũ mịn màng và mát lẹm phù sa là môi trường tuyệt vời cho trai, hến, chẫm chục... cư trú. Những loại động vật nhuyễn thể này khi gặp bàn tay, bàn chân chúng tôi sờ tới, chúng chỉ khép miệng, lăn tròn như viên sỏi, như hòn đá chờ cho người ta nhặt lấy đúc vào giỏ chứ không biết bơi, không biết chạy như tôm, cá. Bởi vậy mò hến quá dễ, miễn là thích mò.
Gọi là mò hến nhưng chúng tôi không chỉ lấy hến. Gặp trai, chẫm chục, cua, ốc... chúng tôi bắt tuốt, nhét tất cả vào giỏ, đợi tới lúc đem về đổ ra sân, nhặt mỗi loại ra một món rồi mới cho mẹ đem ra chợ bán, hoặc là đi bán rong.
Hến rẻ mà ăn lại ngon, lại bổ nên hến cũng rất dễ bán. Người mua hến đem về ngâm trong nước ấm cho nó nhả hết bùn, đoạn rửa thật sạch, đem luộc. Phi hành mỡ với cà chua thật thơm rồi đổ hến đã nhặt hết vỏ vào. Đun đảo đều tay, nêm mắm muối vừa phải, sau đó mới cho nước luộc hến. Nước sôi, rắc thêm hành, răm, thì là thái nhỏ là ta được một nồi canh hến ngon tuyệt.
Hôm mới rồi, tôi nghe mấy anh thanh niên công tác ở ngoài thị xã về làng chơi nói chuyện với nhau: Ếch, ốc, cua, lươn... những món ăn dân dã ở nhà quê trước kia giờ trở thành đặc sản của các nhà hàng sang trọng ngoài thành phố. Họ bảo, cứ đà này, biết đâu món canh hến của làng Ao Gỗ quê mình lại không chiếm một vị trí độc tôn trong các bữa ăn gọi là đại tiệc!
Nghe anh em tiên đoán với nhau thế, vui chuyện, tôi gật gù bảo: “Nếu được vậy thì có phúc cho làng ta một lần nữa đấy các anh ạ”. Nói xong, nhìn nét mặt họ, tôi biết là anh em mới lớn chưa mấy ai hiểu hết điều mình định nói, tôi liền nói thêm: “Năm bốn mươi lăm, cái năm đói khủng khiếp đã làm chết bao nhiêu là người, nhưng làng ta, trong đó có tôi và ông bà nội, ngoại của các anh không chết là nhờ có dòng sông Cửa Ngòi cứu chúng tôi sống bằng những con cua, con hến. Đó là một lần. Còn lần này, nếu như cua, ốc, chẫm chục... mà được lên ngôi trong các bữa tiệc như người ta bảo là mang đậm bản sắc ẩm thực văn hóa dân tộc thì làng ta sẽ bớt nghèo đi đến nơi rồi”.
Nghe tôi nói thế, ai nấy đều cùng cười và cùng nhìn ra phía dòng sông. Đang vào mùa thu, sông Cửa Ngòi sáng loáng lên dưới cái nắng hoe vàng. Hình như ở ngoài ấy, bọn trẻ con của làng sớm nay được nghỉ học, chúng nó đang rủ nhau đi mò hến như chúng tôi cách đây bốn, năm chục năm về trước?
Vào trang nguồn (http://www.baohatay.com.vn/news_detail.asp?newsid=71558&CatID=68)