Đặng Hạnh
11-10-2006, 06:17 AM
TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN THỊ CẨM CHÂU
Chiều muộn. Ngồi ngoài chái hiên, Duy vừa nhỏng tai nghe dự báo thời tiết trên đài, vừa dõi mắt nhìn ra biển. Đài báo hôm nay và cả ngày mai, gió chỉ cấp bốn, thuyền bè có thể ra khơi. Dưới cơn gió nam nồm,mặt biển lừng lững một màu xanh ngả tím. Những cơn sóng mảnh mai cứ dạt mái đầu bạc xuống, nửa như giận dỗi, nửa làm điệu với bạn bè quanh mình. Bãi cát ẩm ướt nở phình ra theo tiếng hải âu. Khi bóng chim chưa hiện rõ hình đôi cánh, quanh cảnh đàn chim bay lên tựa đám gió bốc tro tàn giấy bay tung trời. Trên vệt rừng đen chỗ eo biển ngoặt, như lưỡi cưa cá mập lởm chởm dựng đầu răng nhọn, đã ửng lên màu hoàng hôn đỏ phớt.
Sinh ra và lớn lên từ đảo Ngang thuộc vùng biển cực nam của Tổ Quốc, Duy cứ tưởng tượng thuở hồng hoang, đã có một vị thần khổng lồ khênh đất từ đâu đó rất xa rồi đi giữa đường nặng quá, bèn thả ra từng khúm tại nơi đây. Đảo nhiều đến nỗi dân địa phương còn không thuộc hết tên. Ông cha Duy phải đặt một bài vè để nhớ tên. Duy thấy mỗi hòn đảo đều có một vẻ đẹp diễm lệ,sự trăn trở và cuốn hút kỳ lạ. Vừa vít vổng đọc bài vè, Duy vừa gắn đèn măng sông vào cái khung ở xuồng máy để giữ cho đèn được thăng bằng. Duy bỏ vào lòng thuyền chiếc vợt vớt mực,dây nhợ chuẩn bị tối nay đi thẻ mực (câu mực). Má Duy ời ời gọi cậu vào chiếc phản gỗ tạp ăn cơm. Từ khi anh Thi_anh ruột của Duy_ mất,má già đi nhiều. Da mặt bà bọc ít thịt quá, thành ra nhăn nheo lại, những đường răn chi chít như vết rạn của chiếc lọ men cổ.Tóc bà xám xít nằm ẹp trên đầu,không dậy được, quắp vào cổ, vào tai.Chỉ có đôi mắt bà là đẹp,nhưng bây giờ,chẳng ai có lợi lộc gì về việc ấy.Ba Duy bệnh mất khi Duy còn bé xíu.Nhà trơ ra một mẹ một con,nên Duy biết bây giờ,cậu là chỗ dựa vững chãi, duy nhất của má.Khi Duy sà vào mâm cơm có con cà xeo (một loại sò có nhiều ở đảo Ngangï) xào dứa, canh chua mực nấu rau rút, cậu thấy đói ngấu. Kể ra ở nơi xóm xẻo heo hút cách đất liền đến sáu tiếng đồng hồ đi tàu sắt chín mươi sức ngựa,xoay được một bữa ăn thế cũng là tươm lắm rồi.Cá mực thì không thiếu. Nhưng rau lá chở từ đất liền ra được đến đây, cứ heo héo như những bụi lau mùa đông gặp gió.Duy mở vung nồi cơm,xới hai bát đầy ầng ậng. Má Duy rọ rạy và cơm. Chiếc cổ bà,luồng gân kheo khư kéo nổi lên mấp mô hơi giống thớ kẹo kéo. Bà lập gia đình muộn. Bà đã nấu ăn năm mươi năm nay và có vẻ như còn nấu tốt cho ba chục năm nữa. Vẫn như mọi khi, vừa ăn, má vừa nèo nẹo nhắc nhở Duy phải cẩn thận khi ra khơi. Cũng mấy câu Duy đã thuộc lòng.Duy dạ rân cho má vui. Aên xong, Duy nằm đưa võng nghỉ một nhát. Ký ức về kỷ niệm buồn của anh Thi_ anh ruột Duy lại ào ạt ùa về. Cách đây hai năm, Duy tháp tùng anh Thi cùng chú Tư_chủ ghe _đi câu cá đuối bằng lối câu giàn. Ghe được neo vào những rạng đá ngầm xa xôi ngoài bờ bắc với một giềng câu kiểu dài đến hàng ngàn mét bằng ni lông, có đến hàng nghìn gọng lưỡi chỉ bằng ngón tay cái. Đầu đài câu, chú Tư cột một cái phao, phao đeo một cây cờ cao khỏi mặt biển hai mét. Đài câu là một sợi dây lớn buộc cục đá nặng vào một đầu. Đến chỗ giăng câu,chú Tư ném cục đá ở đầu giềng câu xuống nước, chú và anh Thi bủa câu. Lưỡi câu được neo phao và giằng đá cho bổng khỏi đáy biển chừng năm cen- ti- mét, cứ thế căng thành một tuyến dài. Nếu có con cá đuối hoặc cá khác lội ngang, sẽ mắc vào lưỡi câu, cá càng vùng vẫy thì nhiều lưỡi câu khác càng quắn lại móc nhiều thêm. Trong khi chờ đợi,anh Thi kiểm tra hai chiếc phao lớn, lao có ngạnh và dao bén. Gió thốc từng chập. Cái lạnh ngấm vào người Thi khiến đôi mắt anh ánh lên thứ ánh sáng của khối chì bị chém sạt một góc.Mớ tóc trên đầu anh rung rung. Chợt, mọi người phát hiện phía trước có một con cá lớn mắc câu. Chú Tư cẩn thận lấy chiếc phao móc lưỡi câu gần nhất rồi thả xuống nước. Rồi mọi người cứ để con cá nhào nhảy mặc sức, chờ khi nó mệt mới nhóng thử xem rồi sẽ dùng lao bắt lên.Thời gian trôi chậm chạp, tưởng chừng nó ngừng hẳn lại. Một lúc sau, chú Tư kéo nhóng câu lên, nhưng con cá đuối còn mạnh quá,chiếc đuôi nó quất ngang mạn ghe làm Duy hết hồn la toáng. Chú Tư nói với vẻ vừa hể hả, vừa phảng phất chút lo lắng:
_Trự đuối này dễ đến bốn chục kí lô!
Mọi người lại kiên nhẫn chờ cho đến khi cá mệt.Chú Tư tợp mấy ngụm rượu trắng ngâm chuối hột.Anh Thi phớn phở trước một ngày bội thu,cao hứng ngân nga mấy câu ca dao:
_Mấy cô bắt cá,bắt cua
Bắt cho đầy giỏ, anh mua cả người!
Muốn ăn cá khế thanh mai
Thì em hãy xuống vạn chài cùng anh!
Ban đầu con cá cố dùng sức mạnh chạy đi, nhưng cỡ tàn hai điếu thuốc, nó nằm im thít như đã hết hơi sức. Chú Tư và anh Thi chuẩn bị câu, lao để lôi cá lên. Với đôi cánh tay có những bắp thịt xêm thành múi, anh Thi dùng lao có ngạnh phập xuống mình cá, trong khi chú Tư ra sức kéo giàn câu lên. Đang nằm im,bất ngờ con đuối khổng lồ nhảy vọt lên táp chặt vào tay anh Thi, cái đuôi cóc cáy ghê rợn, đầy những gai độc hại của nó quật mạnh vào ngực anh.Khi con thủy quái buông mình xuống, nó lôi theo cả anh Thi xuống biển.Một vùng nước phọt lên như vòi rồng, đỏ bầm màu máu. Chú Tư lập tức phăng theo giềng nhưng gã cá mạnh quá,gồng người lôi cả nửa thân mình chú muốn tuột xuống biển. Chú hốt hoảng buông giềng, ra sức bấu chặt cả hai cánh tay vào mạn ghe mới trụ lại được. Giọng chú khê đặc, rờn rợn:
_Thả phao cứu hộ!
Có bao nhiêu phao, Duy thảy cả xuống vùng nước có anh Thi,nước mắt cậu chảy dòng dòng. Cánh áo cậu,có năm nút thì đã “về hưu trí” cả ba, bay lật phật trong gió biển. Vẫn không thấy cánh tay anh Thi bập lấy phao. Cơ man đầu ngọn sóng vẫn xập xùy lên xuống, ngã màu bầm một cách đầy đe dọa. Chú Tư sốt ruột nhảy tụp luôn xuống biển. Một lát sau mà Duy ngỡ chừng cả thế kỷ đã trôi qua, phải lậm bậm lắm chú Tư mới đưa được xác anh Thi lên ghe. Anh đã chết vì ngộp nước với thân mình đầy thương tích. Tóc anh ép xuống đầu như ngọn lúa bị bão. Chú Tư vuốt mắt cho anh, vừa khóc hờ hờ,thê thiết tựa quả đất sắp bị nổ. Duy rũ người xuống như cây chuối bị đốn. Cậâu cắn môi đến toé máu và tu lên khóc đến tưởng muốn chết chim, chết cá…
Sau tai nạn khủng khiếp đó, đôi mắt đẹp của má Duy như lúc nào cũng có áng mây mờ vắt qua. Suốt cả tuần lễ, bà chỉ có hai cách nói chuyện với Duy là khóc lóc và than van. Bà cấm tiệt Duy ra biển hàng tháng trời. Về sau, khi đã tạm nguôi ngoai, má Duy chỉ cho cậu đi thẻ mực, một nghề biển tương đối an toàn,ở gần bờ, chứ không cho cậu câu cá đuối nữa, dù chủ trả công rất cao…
***
Khi những ánh sao óng ảnh hiện lên trong không gian tan loãng,Duy chuẩn bị đi thẻ mực. Tướng Duy cao nhồng,cứng cáp như cây tùng dù cậu mới mười tám tuổi. Cậu khoẻ mạnh tựa thân sú, vẹt quanh năm ngập mặn vẫn lớn lên vùn vụt. Bước đi của cậu bậm và chắc, hai bắp tay do làm việc nhiều nên to giống hoa chuối. Dưới ánh trăng, đôi mắt cậu anh ánh tưạ một cặp đá cẩm thạch lóng lánh. Nghề thẻ mực thu hoạch khá cao mà rất gọn gàng. Chỉ cần một người, một chiếc xuồng con con, một cây vợt,một cây đèn manchon. Đèn được treo vào cái khung chống lại độ chao của sóng. Duy đề máy xuồng. Tiếng tạch tạch ngân dài. Xuồng băng băng lướt sóng ra khơi. Biển đêm nồng nã, sẫm khép, đầy đe dọa. Nhưng Duy đã quen với công cuộc mưu sinh. Cậu không hề giảm tốc độ. Xuồng dần ra xa bờ. Từ khơi nhìn vào làng chài, chuỗi nóc nhà như những xác chết im lìm, mặc sức cho gió biển thổi hoành hành, đùa bỡn. Đặc điểm của bãi Ngang là nước trong và sâu, ngư trường đánh bắt rất dài. Mực là loại hàng thủy sản có giá trị xuất khẩu cao, nên cuộc sống hai mẹ con Duy không đến nỗi nổi nênh. Phải nghỉ học từ sau khi anh Thi mất, nhưng năm nay Duy đã đăng ký đi học lại hệ bổ túc lớp Mười. Cậu học ba buổi tối trong tuần. Các ngày còn lại, cậu đi thẻ mực. Buồn cười, má Duy luôn mồm bắt cậu phải thề trươc mỗi lần đi biển là cậu phải quay về bờ bằng bất cứ giá nào, và cậu đã thề cho má yên lòng. Duy biết má vẫn còn bị ám ảnh bởi cái chết của người anh. Đôi khi bà thở dài một cái khào như mọi nỗi phiền muộn trong người đều dào cả ra.Nhiều lúc, má xoa đầu, nắn tay, nắn chân Duy như thể cậu mới là một đứa bé lên sáu. Tính má hay xúc động sau khi Thi mất. Duy thấy thương má mình đứt ruột. Cậu thường thắp nhang khấn vái trước bàn thờ người anh phò hộ cho hai mẹ con cậu luôn gia khang, mùa màng bội thu. Đã đến vùng nước sâu. Sau khi neo vào bên câu, Duy cầm một đoạn dây dài bốn mét, đầu kia cột một cục chì nhỏ và mấy mảnh vải trắng bằng ngón tay thật đều. Cây đèn manchon chiếu ánh sáng một vùng mặt nước. Duy cầm cây vợt nhìn chăm chú vào chỗ vùng áng sáng chờ chùm thẻ ngang qua. Lúc con mực trừng lên đớp vào những mảng vải trắng cột ở sợi dây ( vì chúng ngỡ là con mồi đang run run trốn chạy), Duy nhanh tay vớt ngay. Ô,con mực đầu tiên chiều dài đến ba tấc! Duy thích chí tự thưởng cho mình một vốc lạc rang và chiêu một ngụm trà từ cái bình nhựa mang theo. Má cấm tiệt Duy uống rượu vì bà nghĩ cậu sẽ không đủ sáng suốt khi tự xoay xở một mình ngoài trùng khơi. Mặt trăng đã bị áng mây che khuất, càng thuận lợi cho Duy. Cậu cứ ngồi im như một đụn đất, tay cầm chặt chiếc vợt. Laị hai trự mực nữa mắc lưới, con nào con nấy bự choàm quàm. Duy hí hửng cho vào giỏ. Chung quanh cậu, gần xa là những chiếc ghe,thuyền thúng của các ngư dân khác cũng đang bắt mực. Qua một vùng thẻ mực, Duy thấy cả một khung cảnh trời nước lung linh, nhìn mút tầm mắt, các chao đèn in bóng xuống làn nước, rực rỡ, huyền hoặc tựa một thành phố nhỏ trên biển. Có đêm,Duy trúng đến mười Kí mực dọi xuất khẩu. Cậu mong đêm nay sẽ được hơn thế. Ngồi một lát mỏi lưng, cậu lại ngừng tay, nằm ngả xuống lòng thuyền. Trên trời, lấp lánh chòm sao hai rua như một đốm lửa nhỏ sắp tàn. Duy nghĩ đến Sao_ cô bạn thân ngồi cùng bàn trong lớp bổ túc. Sao nói chuyện với Duy rất hợp tựa hai người đã quen nhau từ kiếp trước. Cô cũng là con em xóm chài, hàng ngày phơi mực, vá lưới phụ cha và anh. Sao mang một vẻ vẻ đẹp tươi thắm mà giản dị, kiêu sa nhưng gần gũi, bí ẩn mà bộc bạch. Về lâu về dài, Duy mong quan hệ hai người sẽ tiến xa hơn. Còn bây giờ, cả hai phải hoàn tất chương trình lớp Mười. Duy cũng phải dành dụm một số tiền để cơi nới cho căn nhà hai mẹ con cậu rộng rãi, thoáng đãng hơn. Dường như Sao đã giúp Duy triển nở hết các chất người trong cậu. Nghĩ đến Sao, Duy lại phớn phở kéo mạnh tay vợt, dù hai tay cậu đã mỏi nhừ, do ban sáng khiên các thùng khô mực bỏ sỉ ở chợ. Tiền bạc cũng từ đây mà ra cả. Một lúc lâu sau, áng chừng đã bắt được hơn mười Kí mực, Duy tự thưởng cho mình bằng cách ngả lưng xuống lòng thuyền. Gió hanh hanh làm đôi mi mắt cậu nặng trĩu. Duy mơ hồ nghe tiếng nói của Sao như tiếng lá vỗ vào nhau:
_Có cần phải lấy dây điều cột vào chân anh để anh khỏi bay vù lên trời không?
_Khỏi cần. Một cọng tóc của Sao cũng đủ làm chuyện đó!
Chẳng biết bao nhiêu thời gian đã trôi qua. Gió phật phật thổi, lạnh đến muốn chết cây chết cỏ. Duy hắt xì liền mấy cái và tỉnh ngủ hẳn. Do mệt mỏi, cậu đã thiếp đi. Bây giờ, cây đèn manchon tắt tự bao giờ. Duy cố khêu lại đèn nhưng không được. Lạ, cậu mới bơm dầu cho nó vừa hôm qua. Duy khởi động máy xuồng để quay về bờ nhưng nó không nổ. Lại thế nữa! Nhiên liệu cậu đã nạp đầy cơ mà! Chắc do sự rò rỉ bình dầu D.O. hay một sự trục trặc nào khác mà do trời tối quá, Duy không phát hiện ra được. Mặt trăng đã khuất sau đụn mây dầy. Các thuyền thẻ mực khác đã về bờ tự lúc nào, chỉ còn trơ khất mỗi mình Duy. Cậu bật quẹt nhiều lần nhưng nó đều tắt ngúm trước cơn gió thốc. Bình tĩnh! Duy tự nhủ. Cậu lại cho nổ máy xuồng nhưng nó không chạy. Làm cả bảy tám lần đều thất bại,Duy mệt mỏi ngồi bệt xuống. Cậu muốn nằm lăn ra ngủ tiếp rồi ra sao thì ra. Nhưng bây giờ, điều đó không thể được.Bốn bề một màn tối đen chẳng khác chi Duy ngồi dưới đáy vỉa quặng than đá. Cậu phải về bờ bằng bất cứ giá nào. Đó là điều Duy đã thềõ trước biển với má không biết bao nhiêu lần để bà tạm an lòng. Má ở nhà chắc đang lo bấn. Nghĩ đến má, Duy như được tiếp thêm sức mạnh. Giờ này áng chừng đã canh ba. Xóm chài đã tắt đèn từ lâu, hai cỗ máy phát điện chỉ chạy đến mười giờ đêm. Duy dòm đến muốn nổ cả mắt mà không xác định được bờ nằm hướng nào. Muốn làm ngư dân giỏi, cái đầu phải có nhiều ngăn. Biển đã trao Duy biết bao tài nguyên, Duy chẳng thể đáp lại bằng một tấm mặt nạ ươn yếu. Duy nhóng mắt nhìn lên vòm trời, sao rải dày tựa những hạt ngọc trai bé tí. Đây,chòm sao có hình cái gàu sòng với ông Thần Nông mọc râu ở cằm ngồi chỉ đạo việc tát nước. Duy bật quẹt lần nữa để nhòm đồng hồ đeo tay. Canh ba, xóm chài nằm phía tay phải Thần Nông. Xác định được hướng, Duy quơ lấy cái dầm, chèo lấy chèo để về phía bờ. Không khí xung quanh rào rào chuyển động, nghe như có cả tiếng huýt gió hút hút. Cánh tay mỏi nhừ nhưng Duy vẫn không ngừng quạt nước. Phải về với má,với Sao cùng bà con làng chài! Gió thun thút thổi trong bóng đêm ma mị làm đôi gò má Duy lạnh như sắt phơi sương, ngược lại lưng áo cậu dòng dãi mồ hôi. Một lúc lâu sau,trước mặt Duy, dải đất hình cánh cung hiện ra,mờ mờ giống bị bọc bở một lớp rượu chưa tinh chế. Đôi môi Duy rung trên má. Cậu vui mừng dù trong người mệt bã bời, giống như thịt đi đằng thịt, xương đi đằng xương…
Neo xuồng vào bến, Duy xách túi mực tươi to chà bá lút thút bước về nhà. Một đốm sáng hiện ra trước mắt Duy. Ngọn đèn bão trong tay người đàn bà. Má! Duy nhận ra bà bằng cái dáng tất tưởi, cam chịu, hai cánh tay nhìn xa mảnh mai như cây bút. Duy xấp xải chạy đến bên má. Bà đã thức suốt đêm để đón Duy! Má giang cả hai tay ôm lấy cậu. Đôi vai gầy xắt xeo của bà rung rung khiến Duy không biết bà đang cười hay đang khóc, mà cũng có thể là cả hai. Duy yêu má biết bao nhiêu! Ngực cậu cứ cốn lên. Dù to bậm, cứng cáp đến cỡ nào, Duy thấy mình vẫn luôn nhỏ nhít trong vòng tay ấm áp của má.
Tiếng một con hải âu khắc khoải kêu ngang trời. Đêm dần rạn nứt để về sáng…
Họ tên thật : Nguyễn Thị Cẩm Châu; đ. chỉ : 387/ 3 Miễu Ba, Cần Thạnh, Cần Giờ, TP. HCM.
ĐT : 08 8740551
Nguồn:http://www.phongdiep.net/
Chiều muộn. Ngồi ngoài chái hiên, Duy vừa nhỏng tai nghe dự báo thời tiết trên đài, vừa dõi mắt nhìn ra biển. Đài báo hôm nay và cả ngày mai, gió chỉ cấp bốn, thuyền bè có thể ra khơi. Dưới cơn gió nam nồm,mặt biển lừng lững một màu xanh ngả tím. Những cơn sóng mảnh mai cứ dạt mái đầu bạc xuống, nửa như giận dỗi, nửa làm điệu với bạn bè quanh mình. Bãi cát ẩm ướt nở phình ra theo tiếng hải âu. Khi bóng chim chưa hiện rõ hình đôi cánh, quanh cảnh đàn chim bay lên tựa đám gió bốc tro tàn giấy bay tung trời. Trên vệt rừng đen chỗ eo biển ngoặt, như lưỡi cưa cá mập lởm chởm dựng đầu răng nhọn, đã ửng lên màu hoàng hôn đỏ phớt.
Sinh ra và lớn lên từ đảo Ngang thuộc vùng biển cực nam của Tổ Quốc, Duy cứ tưởng tượng thuở hồng hoang, đã có một vị thần khổng lồ khênh đất từ đâu đó rất xa rồi đi giữa đường nặng quá, bèn thả ra từng khúm tại nơi đây. Đảo nhiều đến nỗi dân địa phương còn không thuộc hết tên. Ông cha Duy phải đặt một bài vè để nhớ tên. Duy thấy mỗi hòn đảo đều có một vẻ đẹp diễm lệ,sự trăn trở và cuốn hút kỳ lạ. Vừa vít vổng đọc bài vè, Duy vừa gắn đèn măng sông vào cái khung ở xuồng máy để giữ cho đèn được thăng bằng. Duy bỏ vào lòng thuyền chiếc vợt vớt mực,dây nhợ chuẩn bị tối nay đi thẻ mực (câu mực). Má Duy ời ời gọi cậu vào chiếc phản gỗ tạp ăn cơm. Từ khi anh Thi_anh ruột của Duy_ mất,má già đi nhiều. Da mặt bà bọc ít thịt quá, thành ra nhăn nheo lại, những đường răn chi chít như vết rạn của chiếc lọ men cổ.Tóc bà xám xít nằm ẹp trên đầu,không dậy được, quắp vào cổ, vào tai.Chỉ có đôi mắt bà là đẹp,nhưng bây giờ,chẳng ai có lợi lộc gì về việc ấy.Ba Duy bệnh mất khi Duy còn bé xíu.Nhà trơ ra một mẹ một con,nên Duy biết bây giờ,cậu là chỗ dựa vững chãi, duy nhất của má.Khi Duy sà vào mâm cơm có con cà xeo (một loại sò có nhiều ở đảo Ngangï) xào dứa, canh chua mực nấu rau rút, cậu thấy đói ngấu. Kể ra ở nơi xóm xẻo heo hút cách đất liền đến sáu tiếng đồng hồ đi tàu sắt chín mươi sức ngựa,xoay được một bữa ăn thế cũng là tươm lắm rồi.Cá mực thì không thiếu. Nhưng rau lá chở từ đất liền ra được đến đây, cứ heo héo như những bụi lau mùa đông gặp gió.Duy mở vung nồi cơm,xới hai bát đầy ầng ậng. Má Duy rọ rạy và cơm. Chiếc cổ bà,luồng gân kheo khư kéo nổi lên mấp mô hơi giống thớ kẹo kéo. Bà lập gia đình muộn. Bà đã nấu ăn năm mươi năm nay và có vẻ như còn nấu tốt cho ba chục năm nữa. Vẫn như mọi khi, vừa ăn, má vừa nèo nẹo nhắc nhở Duy phải cẩn thận khi ra khơi. Cũng mấy câu Duy đã thuộc lòng.Duy dạ rân cho má vui. Aên xong, Duy nằm đưa võng nghỉ một nhát. Ký ức về kỷ niệm buồn của anh Thi_ anh ruột Duy lại ào ạt ùa về. Cách đây hai năm, Duy tháp tùng anh Thi cùng chú Tư_chủ ghe _đi câu cá đuối bằng lối câu giàn. Ghe được neo vào những rạng đá ngầm xa xôi ngoài bờ bắc với một giềng câu kiểu dài đến hàng ngàn mét bằng ni lông, có đến hàng nghìn gọng lưỡi chỉ bằng ngón tay cái. Đầu đài câu, chú Tư cột một cái phao, phao đeo một cây cờ cao khỏi mặt biển hai mét. Đài câu là một sợi dây lớn buộc cục đá nặng vào một đầu. Đến chỗ giăng câu,chú Tư ném cục đá ở đầu giềng câu xuống nước, chú và anh Thi bủa câu. Lưỡi câu được neo phao và giằng đá cho bổng khỏi đáy biển chừng năm cen- ti- mét, cứ thế căng thành một tuyến dài. Nếu có con cá đuối hoặc cá khác lội ngang, sẽ mắc vào lưỡi câu, cá càng vùng vẫy thì nhiều lưỡi câu khác càng quắn lại móc nhiều thêm. Trong khi chờ đợi,anh Thi kiểm tra hai chiếc phao lớn, lao có ngạnh và dao bén. Gió thốc từng chập. Cái lạnh ngấm vào người Thi khiến đôi mắt anh ánh lên thứ ánh sáng của khối chì bị chém sạt một góc.Mớ tóc trên đầu anh rung rung. Chợt, mọi người phát hiện phía trước có một con cá lớn mắc câu. Chú Tư cẩn thận lấy chiếc phao móc lưỡi câu gần nhất rồi thả xuống nước. Rồi mọi người cứ để con cá nhào nhảy mặc sức, chờ khi nó mệt mới nhóng thử xem rồi sẽ dùng lao bắt lên.Thời gian trôi chậm chạp, tưởng chừng nó ngừng hẳn lại. Một lúc sau, chú Tư kéo nhóng câu lên, nhưng con cá đuối còn mạnh quá,chiếc đuôi nó quất ngang mạn ghe làm Duy hết hồn la toáng. Chú Tư nói với vẻ vừa hể hả, vừa phảng phất chút lo lắng:
_Trự đuối này dễ đến bốn chục kí lô!
Mọi người lại kiên nhẫn chờ cho đến khi cá mệt.Chú Tư tợp mấy ngụm rượu trắng ngâm chuối hột.Anh Thi phớn phở trước một ngày bội thu,cao hứng ngân nga mấy câu ca dao:
_Mấy cô bắt cá,bắt cua
Bắt cho đầy giỏ, anh mua cả người!
Muốn ăn cá khế thanh mai
Thì em hãy xuống vạn chài cùng anh!
Ban đầu con cá cố dùng sức mạnh chạy đi, nhưng cỡ tàn hai điếu thuốc, nó nằm im thít như đã hết hơi sức. Chú Tư và anh Thi chuẩn bị câu, lao để lôi cá lên. Với đôi cánh tay có những bắp thịt xêm thành múi, anh Thi dùng lao có ngạnh phập xuống mình cá, trong khi chú Tư ra sức kéo giàn câu lên. Đang nằm im,bất ngờ con đuối khổng lồ nhảy vọt lên táp chặt vào tay anh Thi, cái đuôi cóc cáy ghê rợn, đầy những gai độc hại của nó quật mạnh vào ngực anh.Khi con thủy quái buông mình xuống, nó lôi theo cả anh Thi xuống biển.Một vùng nước phọt lên như vòi rồng, đỏ bầm màu máu. Chú Tư lập tức phăng theo giềng nhưng gã cá mạnh quá,gồng người lôi cả nửa thân mình chú muốn tuột xuống biển. Chú hốt hoảng buông giềng, ra sức bấu chặt cả hai cánh tay vào mạn ghe mới trụ lại được. Giọng chú khê đặc, rờn rợn:
_Thả phao cứu hộ!
Có bao nhiêu phao, Duy thảy cả xuống vùng nước có anh Thi,nước mắt cậu chảy dòng dòng. Cánh áo cậu,có năm nút thì đã “về hưu trí” cả ba, bay lật phật trong gió biển. Vẫn không thấy cánh tay anh Thi bập lấy phao. Cơ man đầu ngọn sóng vẫn xập xùy lên xuống, ngã màu bầm một cách đầy đe dọa. Chú Tư sốt ruột nhảy tụp luôn xuống biển. Một lát sau mà Duy ngỡ chừng cả thế kỷ đã trôi qua, phải lậm bậm lắm chú Tư mới đưa được xác anh Thi lên ghe. Anh đã chết vì ngộp nước với thân mình đầy thương tích. Tóc anh ép xuống đầu như ngọn lúa bị bão. Chú Tư vuốt mắt cho anh, vừa khóc hờ hờ,thê thiết tựa quả đất sắp bị nổ. Duy rũ người xuống như cây chuối bị đốn. Cậâu cắn môi đến toé máu và tu lên khóc đến tưởng muốn chết chim, chết cá…
Sau tai nạn khủng khiếp đó, đôi mắt đẹp của má Duy như lúc nào cũng có áng mây mờ vắt qua. Suốt cả tuần lễ, bà chỉ có hai cách nói chuyện với Duy là khóc lóc và than van. Bà cấm tiệt Duy ra biển hàng tháng trời. Về sau, khi đã tạm nguôi ngoai, má Duy chỉ cho cậu đi thẻ mực, một nghề biển tương đối an toàn,ở gần bờ, chứ không cho cậu câu cá đuối nữa, dù chủ trả công rất cao…
***
Khi những ánh sao óng ảnh hiện lên trong không gian tan loãng,Duy chuẩn bị đi thẻ mực. Tướng Duy cao nhồng,cứng cáp như cây tùng dù cậu mới mười tám tuổi. Cậu khoẻ mạnh tựa thân sú, vẹt quanh năm ngập mặn vẫn lớn lên vùn vụt. Bước đi của cậu bậm và chắc, hai bắp tay do làm việc nhiều nên to giống hoa chuối. Dưới ánh trăng, đôi mắt cậu anh ánh tưạ một cặp đá cẩm thạch lóng lánh. Nghề thẻ mực thu hoạch khá cao mà rất gọn gàng. Chỉ cần một người, một chiếc xuồng con con, một cây vợt,một cây đèn manchon. Đèn được treo vào cái khung chống lại độ chao của sóng. Duy đề máy xuồng. Tiếng tạch tạch ngân dài. Xuồng băng băng lướt sóng ra khơi. Biển đêm nồng nã, sẫm khép, đầy đe dọa. Nhưng Duy đã quen với công cuộc mưu sinh. Cậu không hề giảm tốc độ. Xuồng dần ra xa bờ. Từ khơi nhìn vào làng chài, chuỗi nóc nhà như những xác chết im lìm, mặc sức cho gió biển thổi hoành hành, đùa bỡn. Đặc điểm của bãi Ngang là nước trong và sâu, ngư trường đánh bắt rất dài. Mực là loại hàng thủy sản có giá trị xuất khẩu cao, nên cuộc sống hai mẹ con Duy không đến nỗi nổi nênh. Phải nghỉ học từ sau khi anh Thi mất, nhưng năm nay Duy đã đăng ký đi học lại hệ bổ túc lớp Mười. Cậu học ba buổi tối trong tuần. Các ngày còn lại, cậu đi thẻ mực. Buồn cười, má Duy luôn mồm bắt cậu phải thề trươc mỗi lần đi biển là cậu phải quay về bờ bằng bất cứ giá nào, và cậu đã thề cho má yên lòng. Duy biết má vẫn còn bị ám ảnh bởi cái chết của người anh. Đôi khi bà thở dài một cái khào như mọi nỗi phiền muộn trong người đều dào cả ra.Nhiều lúc, má xoa đầu, nắn tay, nắn chân Duy như thể cậu mới là một đứa bé lên sáu. Tính má hay xúc động sau khi Thi mất. Duy thấy thương má mình đứt ruột. Cậu thường thắp nhang khấn vái trước bàn thờ người anh phò hộ cho hai mẹ con cậu luôn gia khang, mùa màng bội thu. Đã đến vùng nước sâu. Sau khi neo vào bên câu, Duy cầm một đoạn dây dài bốn mét, đầu kia cột một cục chì nhỏ và mấy mảnh vải trắng bằng ngón tay thật đều. Cây đèn manchon chiếu ánh sáng một vùng mặt nước. Duy cầm cây vợt nhìn chăm chú vào chỗ vùng áng sáng chờ chùm thẻ ngang qua. Lúc con mực trừng lên đớp vào những mảng vải trắng cột ở sợi dây ( vì chúng ngỡ là con mồi đang run run trốn chạy), Duy nhanh tay vớt ngay. Ô,con mực đầu tiên chiều dài đến ba tấc! Duy thích chí tự thưởng cho mình một vốc lạc rang và chiêu một ngụm trà từ cái bình nhựa mang theo. Má cấm tiệt Duy uống rượu vì bà nghĩ cậu sẽ không đủ sáng suốt khi tự xoay xở một mình ngoài trùng khơi. Mặt trăng đã bị áng mây che khuất, càng thuận lợi cho Duy. Cậu cứ ngồi im như một đụn đất, tay cầm chặt chiếc vợt. Laị hai trự mực nữa mắc lưới, con nào con nấy bự choàm quàm. Duy hí hửng cho vào giỏ. Chung quanh cậu, gần xa là những chiếc ghe,thuyền thúng của các ngư dân khác cũng đang bắt mực. Qua một vùng thẻ mực, Duy thấy cả một khung cảnh trời nước lung linh, nhìn mút tầm mắt, các chao đèn in bóng xuống làn nước, rực rỡ, huyền hoặc tựa một thành phố nhỏ trên biển. Có đêm,Duy trúng đến mười Kí mực dọi xuất khẩu. Cậu mong đêm nay sẽ được hơn thế. Ngồi một lát mỏi lưng, cậu lại ngừng tay, nằm ngả xuống lòng thuyền. Trên trời, lấp lánh chòm sao hai rua như một đốm lửa nhỏ sắp tàn. Duy nghĩ đến Sao_ cô bạn thân ngồi cùng bàn trong lớp bổ túc. Sao nói chuyện với Duy rất hợp tựa hai người đã quen nhau từ kiếp trước. Cô cũng là con em xóm chài, hàng ngày phơi mực, vá lưới phụ cha và anh. Sao mang một vẻ vẻ đẹp tươi thắm mà giản dị, kiêu sa nhưng gần gũi, bí ẩn mà bộc bạch. Về lâu về dài, Duy mong quan hệ hai người sẽ tiến xa hơn. Còn bây giờ, cả hai phải hoàn tất chương trình lớp Mười. Duy cũng phải dành dụm một số tiền để cơi nới cho căn nhà hai mẹ con cậu rộng rãi, thoáng đãng hơn. Dường như Sao đã giúp Duy triển nở hết các chất người trong cậu. Nghĩ đến Sao, Duy lại phớn phở kéo mạnh tay vợt, dù hai tay cậu đã mỏi nhừ, do ban sáng khiên các thùng khô mực bỏ sỉ ở chợ. Tiền bạc cũng từ đây mà ra cả. Một lúc lâu sau, áng chừng đã bắt được hơn mười Kí mực, Duy tự thưởng cho mình bằng cách ngả lưng xuống lòng thuyền. Gió hanh hanh làm đôi mi mắt cậu nặng trĩu. Duy mơ hồ nghe tiếng nói của Sao như tiếng lá vỗ vào nhau:
_Có cần phải lấy dây điều cột vào chân anh để anh khỏi bay vù lên trời không?
_Khỏi cần. Một cọng tóc của Sao cũng đủ làm chuyện đó!
Chẳng biết bao nhiêu thời gian đã trôi qua. Gió phật phật thổi, lạnh đến muốn chết cây chết cỏ. Duy hắt xì liền mấy cái và tỉnh ngủ hẳn. Do mệt mỏi, cậu đã thiếp đi. Bây giờ, cây đèn manchon tắt tự bao giờ. Duy cố khêu lại đèn nhưng không được. Lạ, cậu mới bơm dầu cho nó vừa hôm qua. Duy khởi động máy xuồng để quay về bờ nhưng nó không nổ. Lại thế nữa! Nhiên liệu cậu đã nạp đầy cơ mà! Chắc do sự rò rỉ bình dầu D.O. hay một sự trục trặc nào khác mà do trời tối quá, Duy không phát hiện ra được. Mặt trăng đã khuất sau đụn mây dầy. Các thuyền thẻ mực khác đã về bờ tự lúc nào, chỉ còn trơ khất mỗi mình Duy. Cậu bật quẹt nhiều lần nhưng nó đều tắt ngúm trước cơn gió thốc. Bình tĩnh! Duy tự nhủ. Cậu lại cho nổ máy xuồng nhưng nó không chạy. Làm cả bảy tám lần đều thất bại,Duy mệt mỏi ngồi bệt xuống. Cậu muốn nằm lăn ra ngủ tiếp rồi ra sao thì ra. Nhưng bây giờ, điều đó không thể được.Bốn bề một màn tối đen chẳng khác chi Duy ngồi dưới đáy vỉa quặng than đá. Cậu phải về bờ bằng bất cứ giá nào. Đó là điều Duy đã thềõ trước biển với má không biết bao nhiêu lần để bà tạm an lòng. Má ở nhà chắc đang lo bấn. Nghĩ đến má, Duy như được tiếp thêm sức mạnh. Giờ này áng chừng đã canh ba. Xóm chài đã tắt đèn từ lâu, hai cỗ máy phát điện chỉ chạy đến mười giờ đêm. Duy dòm đến muốn nổ cả mắt mà không xác định được bờ nằm hướng nào. Muốn làm ngư dân giỏi, cái đầu phải có nhiều ngăn. Biển đã trao Duy biết bao tài nguyên, Duy chẳng thể đáp lại bằng một tấm mặt nạ ươn yếu. Duy nhóng mắt nhìn lên vòm trời, sao rải dày tựa những hạt ngọc trai bé tí. Đây,chòm sao có hình cái gàu sòng với ông Thần Nông mọc râu ở cằm ngồi chỉ đạo việc tát nước. Duy bật quẹt lần nữa để nhòm đồng hồ đeo tay. Canh ba, xóm chài nằm phía tay phải Thần Nông. Xác định được hướng, Duy quơ lấy cái dầm, chèo lấy chèo để về phía bờ. Không khí xung quanh rào rào chuyển động, nghe như có cả tiếng huýt gió hút hút. Cánh tay mỏi nhừ nhưng Duy vẫn không ngừng quạt nước. Phải về với má,với Sao cùng bà con làng chài! Gió thun thút thổi trong bóng đêm ma mị làm đôi gò má Duy lạnh như sắt phơi sương, ngược lại lưng áo cậu dòng dãi mồ hôi. Một lúc lâu sau,trước mặt Duy, dải đất hình cánh cung hiện ra,mờ mờ giống bị bọc bở một lớp rượu chưa tinh chế. Đôi môi Duy rung trên má. Cậu vui mừng dù trong người mệt bã bời, giống như thịt đi đằng thịt, xương đi đằng xương…
Neo xuồng vào bến, Duy xách túi mực tươi to chà bá lút thút bước về nhà. Một đốm sáng hiện ra trước mắt Duy. Ngọn đèn bão trong tay người đàn bà. Má! Duy nhận ra bà bằng cái dáng tất tưởi, cam chịu, hai cánh tay nhìn xa mảnh mai như cây bút. Duy xấp xải chạy đến bên má. Bà đã thức suốt đêm để đón Duy! Má giang cả hai tay ôm lấy cậu. Đôi vai gầy xắt xeo của bà rung rung khiến Duy không biết bà đang cười hay đang khóc, mà cũng có thể là cả hai. Duy yêu má biết bao nhiêu! Ngực cậu cứ cốn lên. Dù to bậm, cứng cáp đến cỡ nào, Duy thấy mình vẫn luôn nhỏ nhít trong vòng tay ấm áp của má.
Tiếng một con hải âu khắc khoải kêu ngang trời. Đêm dần rạn nứt để về sáng…
Họ tên thật : Nguyễn Thị Cẩm Châu; đ. chỉ : 387/ 3 Miễu Ba, Cần Thạnh, Cần Giờ, TP. HCM.
ĐT : 08 8740551
Nguồn:http://www.phongdiep.net/